phát triển ngành du lịch cho phép
Nghiên cứu tập trung phân tích ngành du lịch Tiền Giang trên các mặt chủ yếu sau: thực trạng số lượng du khách và doanh thu du lịch từ các năm 2001 đến năm 2006, đánh giá tiềm năng phát triển du lịch Tiền Giang. Thông qua phân tích ma trận SWOT có thể tìm
Bởi vì, chuyển đổi số mang lại cơ hội cho ngành du lịch có thể phát triển bền vững hơn trong tương lai. Tất yếu chuyển đổi số ngành du lịch. (Ảnh minh hoạ) Trên thực tế, ngay từ năm 2019, Việt Nam đã có một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư như Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị.
Triển khai Quyết định số 1129/QĐ-TTg, ngành du lịch đã xây dựng Đề án phát triển sản phẩm du lịch đêm theo 5 mô hình hoạt động cơ bản để các địa phương căn cứ vào tình hình thực tế có thể áp dụng triển khai.
Số DN lữ hành trở lại hoạt động và cấp phép mới đã tăng trở lại, với 2.563 DN lữ hành quốc tế, 1.060 DN lữ hành nội địa. Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam cho rằng để du lịch phục hồi bền vững sau dịch bệnh COVID-19, bên cạnh du lịch nội địa cần có các
2.3. Hàm ý phát triển du lịch xanh trong bối cảnh tăng trưởng xanh của ngành Du lịch tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới. Thứ nhất, xây dựng bộ tiêu chí du lịch xanh, gồm các mảng kinh doanh như khách sạn, homestay, khu nghỉ dưỡng, vận chuyển, dịch vụ lữ hành và điểm đến
materi taking simple phone message kelas xi. Đại dịch Covid-19 đã làm thay đổi hoàn toàn từ nhận thức, cơ cấu thị trường, hệ thống dịch vụ, sản phẩm… của ngành Du lịch, đòi hỏi phải có những cơ chế, chính sách đủ mạnh thúc đẩy du lịch phát triển phù hợp với tình hình mới. Là ngành đầu tiên bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19, Du lịch cũng là một trong những ngành có khả năng phục hồi sớm nhất, tuy nhiên, muốn phục hồi, doanh nghiệp phải tồn tại được trước đã. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kiến tạo các sản phẩm mới, dịch vụ mớiTrong những năm gần đây, Du lịch Việt Nam đã đạt được sự tăng trưởng vượt bậc. Năm 2019 đã đón trên 18 triệu lượt khách quốc tế, 85 triệu lượt khách nội địa, doanh thu đạt trên 32 tỉ USD, đóng góp trực tiếp 9,2% GDP và lan tỏa gián tiếp tới gần 18% GDP. Từ năm 2020 đến nay, du lịch toàn cầu chịu tác động nghiêm trọng do đại dịch Covid- 19, Du lịch Việt Nam cũng rơi vào thảm cảnh chưa từng có. Có thể nói chưa bao giờ ngành Du lịch Việt Nam đứng trước khó khăn và thử thách lớn như hiện nay, thiệt hại năm 2020 ước tính đã lên tới 23 tỉ USD, khoảng 40-60% lao động ngành du lịch bị mất việc làm hoặc cắt giảm ngày công; khoảng 95% doanh nghiệp lữ hành quốc tế ngừng hoạt động; nhiều khách sạn phải đóng cửa, công suất sử dụng phòng có thời điểm chỉ đạt từ 10-15%. Sự ngưng trệ của hoạt động du lịch do dịch bệnh đã tác động sâu rộng tới các ngành liên quan và đời sống xã hội, cụ thể và dễ thấy như hàng không, lưu trú, ăn uống. Hệ thống cơ sở lưu trú gặp nhiều khó khăn khi lượng khách giảm do ảnh hưởng Covid-19Một kết quả khảo sát của Bộ Kế hoạch và Đầu tư với doanh nghiệp cho thấy, có tới 85,7% số doanh nghiệp trên cả nước bị tác động của dịch Covid-19, trong đó ngành dịch vụ chịu tác động mạnh nhất như hàng không là 100%, dịch vụ lưu trú là 97,1%, dịch vụ ăn uống 95,5%, đại lý du lịch là 95,7%... Qua đại dịch Covid -19, càng thấy rõ vai trò và sức ảnh hưởng mang tính tác động của ngành Du lịch tới nền kinh tế là rất lớn vì là ngành kinh tế tổng hợp. Đến giờ, khi dịch Covid-19 bùng phát ở khắp nơi, nặng nề nhất là đầu tàu kinh tế, du lịch của cả nước thì ảnh hưởng tới ngành càng trầm trọng hơn. Du lịch gần như tê liệt hoàn toàn. Bao nhiêu sức người, sức của đều dồn vào chống nay, trong tình hình thị trường du lịch quốc tế chưa mở trở lại do dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp ở nhiều nơi trên thế giới, nhiều nước vẫn áp dụng chính sách kiểm soát nhập cảnh nghiêm ngặt, tỉ lệ người tiêm vắc xin còn ít… thì thị trường du lịch nội địa đang trở thành “cứu cánh” của ngành Du lịch Việt Nam. Đòi hỏi, phải có những chính sách tổng thể để lấy lại tốc độ phát triển trước đây trong giai đoạn bình thường mới và để du lịch nội địa thật sự trở thành trụ cột chính của ngành Du lịch. Vietravel Airlines là hãng hàng không lữ hành đầu tiên của Việt NamVới góc độ là một doanh nghiệp kinh doanh hàng không và lữ hành, chúng tôi đề xuất một số giải pháp vĩ mô và các kiến nghị để phát triển ngành Du lịch nói chung và khẳng định vị thế của du lịch nội địa nói tiên, cần nhận thức rõ du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có khả năng đóng góp lớn vào phát triển kinh tế, tạo nhiều việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo động lực cho các ngành, lĩnh vực khác phát triển, đem lại hiệu quả nhiều mặt về kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, đối ngoại và an ninh, quốc nội tại, ngành Du lịch cần đánh giá và định vị lại chính sách thị trường du lịch nội địa trong 5 năm tới và chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2030, trong đó cần làm rõ vai trò và tầm quan trọng của thị trường khách du lịch trong nước đối với sự phát triển của Du lịch. Rõ ràng, đại dịch Covid- 19 đã tạo ra nhu cầu mới, làm thay đổi hoàn toàn thị trường du lịch trong nước. Chính phủ, Tổng cục Du lịch và các địa phương cần khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kiến tạo các sản phẩm mới, dịch vụ mới, phù hợp với xu thế, nhất là sản phẩm du lịch phục vụ nhu cầu của gần 100 triệu dân trong nước. Sau dịch sẽ xuất hiện nhiều xu hướng du lịch mớiBên cạnh đó, cần thúc đẩy các kết nối vùng liên kết du lịch; thành lập các Cơ quan quản lý điểm đến để quản lý phát triển sản phẩm, xúc tiến du lịch cho vùng; đẩy mạnh công tác quảng bá trong nước. Quảng bá chung Năm Du lịch quốc gia cho vùng thay vì từng địa phương như hiện nay để tạo hiệu ứng lan tỏa lớn kích cầu cho thị trường nội cơ chế, chính sách riêng để hỗ trợ cho các doanh nghiệp hàng đầu về lữ hành tại Việt Nam, các doanh nghiệp thương hiệu quốc gia về du lịch được tiếp cận vốn vay ưu đãi, quỹ đất, ưu đãi thuế… Từ đó hình thành và củng cố vai trò của những doanh nghiệp mạnh, đủ tiềm lực đột phá, phát triển; đưa du lịch Việt Nam cạnh tranh với các quốc gia trong khu cần có những cơ chế, chính sách để phát triển gia tăng trải nghiệm, tăng thời gian lưu trú và chi tiêu của du khách bằng mô hình kinh tế ban đêm, du lịch đêm để tạo thêm những sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã hội nói chung và khách du lịch nói riêng Đánh giá đúng vai trò của thị trường khách du lịch nội địa và tái cấu trúc thị trườngCác chính sách hỗ trợ thúc đẩy du lịch phục hồi và phát triển trở lại cần ban hành nhanh, kịp thời và thực chất để triển khai ngay trong thực tế mới phát huy được hiệu quả. Đối với những vấn đề cấp bách cần triển khai ngay nếu chưa có văn bản pháp luật quy định hoặc có quy định khác thì cho thực hiện thí tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật là những yếu tố quan trọng để phát triển du lịch, vì thế, Chính phủ cần tiếp tục dành nguồn lực thích hợp từ ngân sách nhà nước đầu tư phát triển hạ tầng giao thông, nhất là tại các địa bàn trọng điểm về du lịch; nâng cao khả năng kết nối giao thông nhiều hình thức tới các khu, điểm du lịch. Bên cạnh đó, đầu tư các điểm dừng, nghỉ trên các tuyến du lịch đường bộ, tăng cường tần suất các đường bay có sẵn; giải quyết các điểm nghẽn tại các cảng hàng không lớn như Hà Nội, TPHCM. Tập trung đầu tư một số cảng biển và cảng thủy nội địa chuyên dùng tại các địa bàn có điều kiện thuận lợi phát triển du lịch đường biển và đường sông. Cải thiện hạ tầng và chất lượng dịch vụ đường sắt phục vụ khách du lịch. Cần nâng cao khả năng kết nối giao thông nhiều hình thức tới các khu, điểm du lịchTrước tiên phải cứu doanh nghiệp đãMuốn gì thì gì, các doanh nghiệp phải sống được mới có thể phục hồi và phát triển trong giai đoạn tiếp theo. Vì thế, theo tôi, Nhà nước cần tạo cơ chế và chính sách môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp và cộng đồng trong nước phát triển du lịch. Cho phép các doanh nghiệp trong ngành được khoanh nợ và tái cấu trúc các khoản vay đến hết năm 2021 để các doanh nghiệp phục hồi và tái lập hoạt động sau trợ doanh nghiệp trong ngành chuyển đổi số phù hợp với định hướng cơ cấu mới của thị trường khách du trợ doanh nghiệp khởi nghiệp kinh doanh du lịch, đặc biệt ở những địa phương vùng sâu, vùng xa. Chú trọng bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho các doanh nghiệp du lịch; xử lý nghiêm hành vi cạnh tranh thiếu lành mạnh. Tạo điều kiện thuận lợi để người dân trực tiếp tham gia kinh doanh và hưởng lợi từ du lịch; có chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng. Nâng cao vai trò của cộng đồng, xây dựng cộng đồng du lịch văn minh, thân thiện trong ứng xử với khách du lịch; phát huy vai trò của các tổ chức xã hội nghề nghiệp liên quan đến du lịch. Xây dựng cộng đồng du lịch văn minh, thân thiện trong ứng xử với khách du lịchMọi việc đều bắt đầu từ con người, Nhà nước cần phải có chính sách thu hút đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực du lịch; tăng cường năng lực cho các cơ sở đào tạo du lịch về cơ sở vật chất kỹ thuật, nội dung, chương trình và đội ngũ giáo viên. Đẩy mạnh xã hội hóa và hợp tác quốc tế, thu hút nguồn lực phát triển nguồn nhân lực du dạng hóa các hình thức đào tạo du lịch. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến trong đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực du lịch. Bên cạnh đó, cần tăng cường năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về du lịch và các lĩnh vực liên quan để tạo điều kiện cho phát triển du lịch; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia trong lĩnh vực du lịch theo hướng hội nhập khu vực và quốc tế; nâng cao chất lượng công tác quy hoạch phát triển du toàn bộ máy quản lý nhà nước về du lịch theo hướng đồng bộ, chuyên nghiệp, hiệu lực và hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản lý liên ngành, liên vùng của hoạt động du lịch. Nâng cao năng lực, trách nhiệm và quyền hạn của Tổng cục Du lịch, Hiệp hội Du lịch. Thành lập Sở du lịch tại các địa phương có điều kiện phát triển du lịch theo nguyên tắc không tăng thêm biên chế. Tập trung xây dựng nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệpĐẩy nhanh hơn việc tiêm vắc xin toàn dân để tạo miễn dịch cộng đồng, mở cửa du lịch quốc tế trở lại. Xây dựng các quỹ tài chính hỗ trợ cho ngành Du lịch dưới hình thức hỗ trợ trực tiếp cho khách trong năm 2021. Điều này sẽ giúp khuyến khích và tác động kích cầu được 1 lượng khách rất lớn đi du lịch trong nước, giúp hệ thống người lao động dịch vụ phía sau có được việc làm, các doanh nghiệp duy trì được hoạt động và đội ngũ nhân sự. Gia hạn thời gian nộp thuế đến cuối năm 2021 đối với thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp. Khó khăn lớn nhất hiện nay đối với các doanh nghiệp du lịch là thiếu vốn để tái lập hoạt động kinh doanh. Trong khi đó, doanh nghiệp muốn vay tiền từ ngân hàng phải có tài sản thế chấp, trong khi doanh nghiệp du lịch lữ hành chỉ có uy tín và thương hiệu - những thứ mà không ngân hàng nào nhận thế chấp. Vì thế, cần có cơ chế mới để doanh nghiệp tiếp cận vốn vay khả thi, được vay tín cạnh các chính sách hỗ trợ về thuế, thị thực nhập cảnh, giá điện... cần chính sách đồng bộ giữa các bộ, ngành, địa phương tạo điều kiện cho người dân đi du lịch như kéo dài một số kỳ nghỉ lễ, miễn giảm các khoản thu phí tham quan, tăng cường truyền thông quảng bá, xúc tiến du lịch trong nước. Ngành Du lịch cũng cần đẩy nhanh hơn việc chuyển đổi số trong phát triển du lịch, xây dựng nền tảng số dùng chung cho toàn ngành và toàn xã hội. Trong đó, số hóa toàn bộ hệ thống ngành nghề bổ trợ du lịch từ dịch vụ vận chuyển đến lưu trú, ăn uống, điểm tham quan, di sản, kể cả cổ vật trong bảo tàng để thành tài nguyên chung để phục vụ phát triển du Văn hóa, NGUYỄN QUỐC KỲ, Chủ tịch HĐQT, Công ty Du lịch Vietravel
Cuộc cách mạng công nghệ số đã và đang tác động mạnh mẽ đối với các ngành, lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, trong đó có du lịch. Xu thế công nghệ đang làm thay đổi các phương thức quản lý, kinh doanh và tiêu dùng du thời đại du lịch thông minh đã và đang thành hình. Đây là sản phẩm du lịch mới, bao gồm các dịch vụ trải nghiệm được tạo ra bằng việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến cung cấp cho du khách.“Ở đâu, khi nào có sự ứng dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại vào du lịch thì ở đó, khi đó có du lịch thông minh”, ông Phạm Hà, Chủ tịch Lux Group nhận báo cáo Xu hướng du lịch Việt Nam 2021 do Outbox Consulting thực hiện, việc sử dụng công nghệ số trong du lịch đã được thế giới và Việt Nam thực hiện từ nhiều năm nay và được đẩy mạnh hơn bao giờ hết trong bối cảnh của đại dịch Covid-19. Trong năm 2021, công nghệ sẽ là yếu tố hàng đầu giúp du khách có lại tự tin khi đi du thức du lịch trực tuyến, khám phá các điểm đến trên thế giới bằng công nghệ thực tế ảo đã trở nên phổ biến hơn. Trong tương lai, trải nghiệm ảo có thể trở thành một tiêu chuẩn phải có đối với mỗi doanh nghiệp, giúp khách du lịch có cơ hội kết nối với hướng dẫn viên và cảm nhận trải nghiệm trước khi đặt dịch ông Hà, khách du lịch sử dụng internet, các tiện ích và thiết bị thông minh để tìm kiếm thông tin du lịch, tham khảo điểm đến, so sánh và lựa chọn các dịch vụ du lịch hợp lý, thực hiện các giao dịch mua tour, đặt phòng, mua vé máy bay, thanh toán trực tuyến… ngày càng có xu hướng gia tăng. Họ đang trực tiếp trở thành những vị “khách du lịch thông minh” – nhân tố quan trọng của du lịch thông bối cảnh đó, nhân sự trong ngành du lịch cũng không thể đi sau xu thế. Người làm du lịch phải có năng lực công nghệ, có khả năng thích ứng và “thông minh” hơn để phục vụ du khách tăng trải nghiệm và sự thoả mãn. “Covid đến, các doanh nghiệp và người lao động phải thay đổi như bàn cờ xoá đi chơi lại. Ai thích ứng nhanh sẽ trụ được. Không phải cá to nuốt cá bé, mà cá nhanh nuốt cá chậm”, Chủ tịch Lux Group đó, các công ty du lịch và người làm du lịch phải trở thành chuyên gia điểm đến, trải nghiệm phải cá nhân hoá, xây dựng niềm tin bằng kiến thức, dịch vụ 24h, check-in sớm, chọn phòng đẹp, chọn bàn ăn, làm những việc mà expedia hay không làm dụng lao động trong nghành du lịch từ cấp thấp tới cấp cao các lĩnh vực của nghành du lịch, ông Hà cho biết “Chúng tôi cho phép nhân viên làm việc theo ca, truy cập cloud và làm việc bằng phầm mềm. Một số nghề như hướng dẫn viên tuyến điểm sẽ mất đi, nhân sự như hướng dẫn viên phải chuyên sâu về kiến thức từng mảng, từng chủ đề ngoài kỹ năng và thái độ”.Nhiều vấn đề trong đào tạo nhân lựcTheo báo cáo của WEF về xếp hạng năng lực cạnh tranh ngành lữ hành và du lịch 2019, năng lực cạnh tranh Việt Nam tăng bốn bậc từ vị trí 67 năm 2017 lên 63/140 năm 2019. Song, chỉ số sức cạnh tranh về nguồn nhân lực và thị trường lao động vẫn còn thấp, xếp hạng 47/140 đạt 4,8 điểm; sụt giảm so với năm 2017, chỉ xếp trên Lào, Campuchia, Brunei trong các nước giá xếp hạng của WEF phản ánh khá chính xác hạn chế về lao động của du lịch Việt Nam trước bối cảnh công nghệ đang phát triển mạnh Phạm Hà, Chủ tịch Lux GroupTheo ông Hà, mỗi năm toàn ngành du lịch cần thêm gần lao động. Tuy nhiên, lượng sinh viên chuyên ngành ra trường chỉ khoảng người/năm, trong đó chỉ hơn 12% có trình độ cao đẳng, đại học trở lên. Ngoài khoảng cách về số lượng này, khoảng cách về kỹ năng trong lực lượng lao động du lịch hiện nay cũng lớn. Chỉ 42% người lao động được đào tạo chuyên ngành về du lịch, trong khi đó, 38% chuyển từ ngành khác sang và 20% không được đào tạo chính quy. Như vậy, nguồn cung nhân lực du lịch trên toàn quốc được xem là yếu và tịch Lux Group nhận định, còn nhiều vấn đề đối với câu chuyện nhân lực ngành du lịch hiện nay. Một là việc đào tạo còn tập trung quá nhiều vào lý thuyết mà thiếu thực hành, thực nghiệp. Hai là không đào tạo chuẩn theo năng lực như các nước. Ba là thiếu nhân sự cấp cao và nguồn nhân lực có chất lượng. Bốn là lạc hậu và thua luôn sân nhà khi nhân lực ASEAN sẽ có quyền làm việc tại Việt Nam ngoại trừ hướng dẫn viên theo thoả thuận nghề ASEAN. Năm là đầu ra của nhà trường chưa đáp ứng được đầu vào của doanh nghiệp, gây lãng phí nguồn vị doanh nhân này, nhân lực ngành du lịch cần được đào tạo và định hướng phát triển để đáp ứng yêu cầu mới với xu thế phát triển du lịch thông minh, công nghệ thực tế ảo, trí tuệ nhân tạo … trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Việc nghiên cứu để phát triển các ngành nghề và lĩnh vực mới thích ứng với du lịch thông minh thời trở nên cấp gian qua, ngành du lịch Việt Nam đã và đang chú trọng công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo mục tiêu hội nhập quốc tế. Từ năm 2009, bộ trưởng du lịch các quốc gia ASEAN nhân danh Chính phủ các nước đã ký thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau. Trên cơ sở đó, giáo trình đào tạo nghề chung ASEAN cũng đã được xây dựng, liên kết chặt chẽ với khung trình độ nhiên, chính sách, cơ chế… về phối hợp giữa các chủ thể liên quan đến đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch còn chưa đầy đủ. Quy mô đào tạo chưa đủ lớn, ngành nghề đào tạo chưa đầy đủ, cơ cấu nhân lực theo ngành nghề chuyên môn chưa hợp lý, chưa đáp ứng được nhu cầu lớn trong cùng một thời điểm đối với doanh nghiệp du lịch có quy mô phân bổ cơ sở đào tạo du lịch chưa thật sự hợp lý. Tỷ lệ học sinh, sinh viên sau tốt nghiệp trở về địa phương làm việc còn thấp trong khi khu du lịch mới ở các vùng sâu, vùng xa còn thiếu nhân lực được đào tạo. Cơ chế phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp vẫn chưa rõ ràng; chưa có cơ chế, chính sách cụ thể, khả thi khuyến khích các doanh nghiệp thực sự quan tâm phối hợp trong đào tạo nhân lực du độ chính sách đối với lao động ngành du lịch chưa thực sự hợp lý. Tính mùa vụ trong du lịch ảnh hưởng đến tuyển dụng, đến nhu cầu theo học lĩnh vực du lịch. Thiếu hụt nhân lực quản trị cấp caoMột vấn đề khác được ông Hà chỉ ra là du lịch Việt Nam hiện thiếu hụt nhân lực quản trị cấp cao, đặc biệt là lĩnh vực kinh doanh khách sạn, khu nghỉ dưỡng... Tại các doanh nghiệp, tập đoàn khách sạn lớn hoặc có yếu tố nước ngoài, hầu hết đội ngũ quản lý cấp trung và cấp cao đều là người nước cả nước có hơn 190 cơ sở đào tạo du lịch. Trong đó có 65 trường đại học có các khoa du lịch; 55 trường cao đăng và 71 trường trung cấp. Một số trường đại học, cao đẳng đã đầu tư xây dựng cơ sở thực hành như xưởng, khách sạn... tương đối hiện đại. Đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý đào tạo du lịch tăng về số lượng và từng bước được chuẩn thống kê của Tổng cục du lịch, toàn ngành cần lao động mỗi năm nhưng số lượng sinh viên chuyên ngành ra trường chỉ khoảng Trong đó chỉ hơn 12% có trình độ cao đẳng, đại học trở lên. Trong 1,3 triệu lao động du lịch của cả nước, chỉ có 42% được đào tạo về du lịch, 38% từ các ngành khác chuyển sang và khoảng 20% chưa qua đào tạo chính quy. Theo ông Hà, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch, đặc biệt có thể thích ứng trong thời đại thông qua việc đào tạo và đào tạo lại chuẩn năng lực bao gồm thái độ, kỹ năng và chuyên môn. Cần khôi phục và phát triển nhân lực du lịch đi kèm các kỹ năng đào tạo và huấn luyện cần thực hiện theo hướng đáp ứng yêu cầu thực tế của doanh nghiệp. Việc thực nghiệp nên theo tỷ lệ 50/50 giữa nhà trường và doanh nghiệp. Đồng thời, cần kết hợp mô hình ba nhà gồm nhà nước, nhà trường và nhà doanh nghiệp trong công tác đào tạo. Khuyến khích đầu tư công nghệ vào các trang thiết bị giảng dạy và thực hành tại các trường và cơ sở đào tạo nghề du lịch. “Muốn du lịch có chất lượng phải có nguồn nhân lực chất lượng cao, có năng lực, có khả năng sử dụng công nghệ và thấu hiểu khách hàng để đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp. Cần thực nghiệp tại doanh nghiệp, và liên kết ba nhà để có nguồn nhân lực có chất lượng, thực chiến và thiện chiến, đảm bảo đầu ra của nhà trường là chuẩn đầu vào của doanh nghiệp”, Chủ tịch Lux Group nói. Là đơn vị chuyên phục vụ đối tượng khách hàng sang trọng, để tạo ra những trải nghiệm chân thực và độc đáo, Lux Group đầu tư cả phần cứng và phần mềm. Phần cứng của những con tầu sang trọng của Lux Group được đầu tư rất đẹp, tinh tế và tỉ mỉ từng chi tiết, mỗi góc nhỏ là một câu chuyện. Còn phần mềm là dịch vụ và nhân sự trên du thuyền được chú trọng để tăng sự thoả mãn và đáng nhớ cho du khách. “Nhân sự trên du thuyền hiểu người chủ thực sự của họ là khách hàng, có thái độ, kiến thức và kỹ năng nâng tầm nghệ thuật. Chúng tôi sử dụng phầm mền quản lý các khâu, từ bán hàng đến vận hành để nhân viên gọi đúng tên khách, các yêu cầu nhỏ nhất được đáp ứng và làm ngạc nhiên du khách trước, trong và sau chuyến đi”, ông Hà nói.
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch VHTTDL vừa ký Quyết định 2292/QĐ-BVHTTDL ban hành Chương trình hành động phát triển du lịch giai đoạn 2021 - 2025, trong đó chú trọng nhiệm vụ chuyển đổi số trong toàn ngành du lịch. Triển khai chương trình hành động phải quyết liệt, chủ động, thực chất và hiệu quảChương trình hành động phát triển du lịch giai đoạn 2021- 2025 nhằm cụ thể hóa các chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng được nêu tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII và mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu được nêu tại Nghị quyết số 50/NQ-CP trong lĩnh vực du lịch. Xác định các nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên phát triển du lịch Việt Nam trong giai đoạn 2021 - 2025 để thực hiện hiệu quả các mục tiêu, định hướng phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2025 phù hợp với tình hình thực tiễn. Tạo sự đồng thuận, nhất trí cao trong nhận thức và hành động của toàn ngành du lịch, các ngành liên quan, các địa phương, doanh nghiệp và người dân để tập trung phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, từng bước đưa Việt Nam trở thành điểm đến đặc biệt hấp dẫn, thuộc nhóm 50 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế triển khai Chương trình hành động phải quyết liệt, chủ động, thực chất và hiệu quả; phối hợp chặt chẽ, thường xuyên của các cơ quan, đơn vị liên quan trong quá trình triển khai và căn cứ các nhiệm vụ trọng tâm của Chương trình hành động, các đơn vị liên quan theo chức năng, nhiệm vụ xây dựng Kế hoạch thực hiện bảo đảm tiến độ, chất lượng và hiệu hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh trong lĩnh vực du lịchĐối với các nhiệm vụ trọng tâm do Bộ VHTTDL chủ trì, Bộ VHTTDL sẽ thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển du lịch trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và tổ chức sơ kết 05 năm thực dựng Kế hoạch hành động của ngành du lịch triển khai thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm VHTTDL cũng trình Chính phủ ban hành Nghị định về mô hình quản lý khu du lịch quốc gia trong năm 2021 và triển khai thực hiện sau khi được ban hành; hướng dẫn địa phương xây dựng quy định về mô hình quản lý khu du lịch cấp tỉnh, điểm du lịch. Hoàn thành lập "Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050" trình Chính phủ phê duyệt và tổ chức triển khai thực hiện Quy dựng Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh trong lĩnh vực du lịch giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá mức độ an toàn, chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, môi trường và dịch bệnh tại các khu, điểm du dựng, ban hành quy định và hướng dẫn áp dụng một số mô hình kinh tế mới trong lĩnh vực du lịch kinh tế chia sẻ, kinh tế du lịch ban đêm, kinh tế tuần hoàn; tiêu chuẩn, quy định quản lý đối với kinh doanh loại hình du lịch chăm sóc sức khoẻ, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp, nông thôn, du lịch mạo hiểm và một số loại hình du lịch toàn tổ chức, bộ máy tham mưu quản lý nhà nước về du lịch ở Trung ương và địa phương đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn; thống nhất, kiện toàn mô hình tổ chức quản lý đối với các đơn vị sự nghiệp xúc tiến quảng bá du lịch của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung xuất ban hành chính sách ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp du lịch và hỗ trợ nguồn lực cho người dân tham gia phát triển du lịch cộng đồng, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Xây dựng kế hoạch trung hạn và dài hạn, đảm bảo triển khai có hiệu quả hoạt động của Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch...Điểm đến Phú Quốc, Kiên Giang. Ảnh minh họaỨng dụng khoa học và công nghệ hiện đại, chuyển đổi số toàn ngành du lịchVới nhiệm vụ ứng dụng khoa học và công nghệ hiện đại, công nghệ số, Chương trình yêu cầu phải chú trọng thực hiện chuyển đổi số trong toàn ngành du lịch, góp phần hoàn thành mục tiêu "Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030".Phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về du lịch; thực hiện điều tra, đánh giá, phân loại và số hóa tài nguyên du lịch Việt Nam; hình thành hệ thống thông tin số về khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở dịch vụ du lịch; xây dựng hệ thống thông tin số về thị trường du lịch Việt Nam; thống nhất công tác thống kê du lịch ở Trung ương và địa dựng và triển khai các đề án, dự án phát triển du lịch thông minh, mô hình quản lý điểm đến du lịch thông minh; ứng dụng công nghệ hiện đại vào phát triển các phần mềm, tiện ích thông minh hỗ trợ công tác quản lý và phục vụ khách du lịch; hỗ trợ doanh nghiệp du lịch kết nối, đổi mới sáng tạo trong hoạt động kinh doanh du cường ứng dụng công nghệ xanh, sạch trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ và cơ sở lưu trú du tập trung đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch, Bộ VHTTDL đề xuất Chính phủ ưu tiên nguồn lực đầu tư phát triển hạ tầng giao thông kết nối của một số khu du lịch quốc gia tại các khu vực động lực phát triển du lịch; Các tỉnh/thành phố nằm trong khu vực động lực phát triển du lịch có khu du lịch quốc gia chủ động đề xuất, bố trí nguồn lực đầu tư, đáp ứng yêu cầu phát triển khu du lịch quốc xuất Chính phủ chú trọng đầu tư hạ tầng kết nối giao thông quan trọng như hạ tầng đường bộ ven biển, đường biển; hạ tầng sân bay, kết nối các đường bay quốc tế, giờ bay phù hợp đến các tỉnh phát triển du lịch; đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng kết nối giữa các vùng và hạ tầng của một số vùng khó khăn như miền núi phía Bắc, miền Trung - Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long, tạo thuận lợi cho phát triển du lịch. Đề xuất Chính phủ và các địa phương ưu tiên bố trí nguồn lực từ ngân sách đầu tư phát triển du lịch cộng đồng tại các địa phương có tiềm năng du lịch ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Giai đoạn đến năm 2025, ưu tiên nguồn lực đầu tư phát triển du lịch cộng đồng tại một số tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung - Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu hút các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ du lịch để hình thành các cụm du lịch đồng bộ, chất lượng, có quy mô lớn, đẳng cấp quốc triển các sản phẩm du lịch chủ đạo theo hướng chuyên nghiệp, chất lượng, có thương hiệuTập trung phát triển sản phẩm du lịch đặc thù của mỗi địa phương và mỗi vùngVề nhiệm vụ phát triển sản phẩm du lịch và quản lý chất lượng dịch vụ du lịch, Chương trình đề ra mục tiêu phát triển các sản phẩm du lịch chủ đạo theo hướng chuyên nghiệp, chất lượng, có thương hiệu và sức cạnh tranh cao du lịch văn hoá; du lịch sinh thái, du lịch đô thị; du lịch nghỉ dưỡng cao cấp; thí điểm phát triển sản phẩm du lịch tới các đảo xa trung phát triển sản phẩm du lịch đặc thù của mỗi địa phương, mỗi vùng, phù hợp với lợi thế tài nguyên du lịch, đảm bảo kết nối với hệ thống sản phẩm du lịch của vùng và quốc gia. Đặc biệt, ưu tiên khai thác có hiệu quả các giá trị văn hóa đặc trưng, nổi trội của mỗi địa phương, ưu tiên công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá, lịch sử, truyền thống gắn với phát triển du lịch bền vững; chú trọng khai thác thế mạnh ẩm thực đa dạng, đặc sắc của từng địa phương, từng vùng để hình thành sản phẩm du lịch độc đáo, khác biệt, có lợi thế cạnh tranh, góp phần tạo dựng thương hiệu nổi bật của từng địa phương, từng trợ phát triển du lịch nông nghiệp, nông thôn; du lịch công nghiệp; du lịch chăm sóc sức khoẻ; du lịch cộng đồng gắn với các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc; phát triển sản phẩm, dịch vụ du lịch về đêm tại các đô thị, trung tâm du lịch, các khu du lịch, điểm du lịch đông khách du lịch; phát triển các loại hình du lịch thể thao có tiềm năng, thế mạnh phát triển tại Việt khích phát triển du lịch theo mô hình tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn tại các khu du lịch, điểm du lịch và cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch. Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, bảo đảm chất lượng dịch vụ du lịch tại các khu du lịch, điểm du lịch và cơ sở kinh doanh dịch vụ du hỗ trợ doanh nghiệp du lịch phục hồi, phát triển trong bối cảnh tác động của đại dịch COVID-19, Bộ VHTTDL đề xuất ban hành và triển khai kịp thời các giải pháp về cơ chế, chính sách tài chính, tín dụng hỗ trợ tài chính, miễn giảm thuế, cho vay ưu đãi, giãn nợ, khoanh nợ…, chính sách hỗ trợ việc làm và đào tạo nhân lực để hỗ trợ doanh nghiệp, cộng đồng, người dân tham gia kinh doanh du lịch duy trì hoạt động, vượt qua khó khăn do tác động của đại dịch. Hỗ trợ doanh nghiệp, cộng đồng và người dân tham gia kinh doanh du lịch đổi mới mô hình kinh doanh, phát triển sản phẩm mới, xúc tiến quảng bá du lịch, phục hồi và phát triển thị trường du lịch. Đơn giản hóa các thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực du lịch; đề xuất giảm phí, lệ phí các thủ tục, giảm tiền ký quỹ kinh doanh đối với các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh du lịch do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19. Về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và thị trường lao động du lịch bền vững, Bộ VHTTDL xây dựng, triển khai Chương trình điều tra, đánh giá tổng thể nguồn nhân lực du lịch Việt Nam và Đề án phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao của Việt Nam đến năm 2025. Chú trọng nâng cao chất lượng nhân lực du lịch của các doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ. Xây dựng, triển khai Chương trình bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho lực lượng lao động nghề du lịch. Chú trọng bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ nhân lực tham mưu quản lý nhà nước về du lịch ở Trung ương và địa phương, nhân lực quản trị doanh nghiệp du lịch. Quan tâm giữ lực lượng lao động du lịch chuyên nghiệp, bổ sung, đào tạo nguồn nhân lực du lịch bị thiếu hụt lớn và chất lượng giảm do ảnh hưởng của đại dịch trung phát triển mạnh thị trường du lịch nội địaVề phát triển thị trường, tăng cường xúc tiến, quảng bá và đẩy mạnh hợp tác quốc tế về du lịch, Bộ VHTTDL sẽ tập trung phát triển mạnh thị trường du lịch nội địa; nghiên cứu kinh nghiệm các nước về áp dụng mô hình bong bóng du lịch, hộ chiếu vắc xin, đề xuất thiết lập cơ chế hợp tác trao đổi khách quốc tế với các quốc gia kiểm soát tốt dịch bệnh để dần phục hồi và phát triển thị trường khách quốc tế. Xây dựng Chiến lược marketing du lịch Việt Nam đến năm 2030; triển khai các chiến dịch xúc tiến, quảng bá du lịch tại các thị trường trọng điểm phù hợp với xu hướng mới của thị trường. Đa dạng hóa các phương thức, công cụ xúc tiến quảng bá, chú trọng triển khai các hoạt động e-marketing. Hỗ trợ các địa phương tiếp cận đẩy mạnh xúc tiến quảng bá, giới thiệu du lịch trên các kênh truyền thông quốc tế. Tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả các cam kết, ghi nhớ, thỏa thuận hợp tác quốc tế về du lịch; tận dụng lợi thế các Hiệp định thương mại tự do Việt Nam là thành viên để phát triển du lịch. Tập trung triển khai các hoạt động hợp tác phát triển du lịch trong ASEAN về quản lý du lịch an toàn, hỗ trợ phục hồi du lịch trong tình hình mới; triển khai các dự án hợp tác phát triển du lịch và tranh thủ khai thác các nguồn lực quốc tế để phát triển du trình cũng đề ra một số nhiệm vụ phối hợp thực hiện với các Bộ, ngành, địa phương, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp.../.
Xu hướng phát triển ngành Du lịch Việt Nam Du lịch là ngành có nhiều tiềm năng phát triển của nước ta. Hàng năm ngành du lịch đóng góp rất nhiều trong GDP Việt Nam. Một trong những thành công lớn của ngành du lịch đó là thu hút lượng lớn khách du lịch quốc tế. Để có thể tìm hiểu và phát huy thế mạnh du lịch cần đi sâu và tìm hiểu các xu hướng phát triển du lịch Việt Nam. Ngành du lịch khách sạn Một số đặc thù và xu hướng phát triển của khách du lịch tới từ thị trường quốc tế tới Việt Nam có thể kể đến Đa dạng về cơ cấu nguồn khách Đa dạng về đối tượng khách du lịch du lịch đang ngày càng phổ biến, không chỉ những người giàu có từ các nước phát triển mới đi du lịch mà tất cả các tầng lớp khác, từ nhiều quốc gia khác nhau cũng tham gia ngày càng đông đảo; Đa dạng về độ tuổi người già, người mới nghỉ hưu đi du lịch ngày càng nhiều nên cần có những chương trình đặc biệt phục vụ nhu cầu về nghỉ dưỡng cho đối tượng khách này. Về giới tính Những thay đổi về vai trò và trách nhiệm trong gia đình khiến khách là phụ nữ ngày càng tăng, yêu cầu các cơ sở có những cải tiến, bổ sung các trang thiết bị, vật dụng và các dịch vụ, lịch trình phù hợp với nhu cầu của nữ thương nhân. Về loại hình ngày càng nhiều những nhóm gia đình đăng ký đi du lịch với sự tham gia của đầy đủ các thành viên của cả ba thế hệ trong gia đình, đặc biệt các dịp lễ, cuối tuần và kỳ nghỉ hè của trẻ em. Du lịch bền vững ngày càng phát triển Đây là xu hướng của khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, nhất là khách đến từ các nước châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật, Thái Lan. Họ có ý thức và nhu cầu cao về an toàn và sức khoẻ, ngày càng nhiều người muốn quay về với thiên nhiên. Vì vậy, cần triển khai thực hiện và tập trung tuyên truyền cho các những chương trình, dịch vụ thân thiện với môi trường. Du lịch kết hợp dịch vụ sức khỏe và sắc đẹp phát triển Đáp ứng xu hướng này, cần tạo những khu vực không hút thuốc lá, không bán và phục vụ rượu mạnh, bổ sung các thực đơn tăng cường rau, củ, quả chứng minh được nguồn gốc, các món ăn ít béo, đường, calo hoặc ít carbohydrate, các đồ uống ít calo và ít cafein, tăng cường tổ chức câu lạc bộ sức khoẻ với những dụng cụ, thiết bị thể thao, phòng tập yoga, sân tennis, sân tập gofl mini, bể bơi, bể sục, phòng tắm nước khoáng, ngâm thuốc bắc, nơi phơi nắng hoặc các phòng matxa… ; các dịch vụ du lịch kết hợp chữa bệnh thời đại như các bệnh gut, tiểu đường, tim mạch .. Đa dạng hóa loại hình du lịch Khách quốc tế có xu hướng kết hợp du lịch cùng các chuyến đi công tác. Ví dụ nghỉ biển kết hợp với hội nghị, du lịch khen thưởng kết hợp thăm dò thị trường, du lịch nghỉ dưỡng ngắn ngày kết hợp với casino.. đòi hỏi các cơ sở đa dạng hoá các sản phẩm như tạo chương trình nghỉ ngơi tham quan di tích lịch sử kết hợp thăm trang trại trồng rau, chè và cây ăn quả, tổ chức các hoạt động giải trí trên biển. Du lịch tự túc có xu hướng phát triển mạnh trong thời gian tới Du lịch tự túc phát triển mạnh Xu hướng chọn tour du lịch tự thiết kế, đặt chỗ qua mạng; tự lựa chọn dịch vụ, không đi theo tour trọn gói. Du lịch mang tính cá nhân nhiều nhất là dịch vụ ăn uống. Vì vậy các doanh nghiệp lữ hành, vận chuyển, khách sạn thường kết hợp tổ chức các chương trình chỉ cung ứng một phần dịch vụ du lịch như Hãng Hàng không quốc gia Việt Nam Vietnam Airlines đã tổ chức khá thành công gói sản phẩm Free and Easy chỉ gồm vé máy bay, dịch vụ đón tiễn sân bay và 3 đêm khách sạn. Nếu có nhu cầu, khách có thể tiếp tục mua tour lẻ và các dịch vụ khác tại điểm đến. Như vậy, để hỗ trợ thúc đẩy xu hướng này, cần hỗ trợ nâng cao năng lực tiếp cận thị trường của các doanh nghiệp, cơ quan xúc tiến du lịch bằng các công cụ cập nhật theo đời sống hiện đại như các mạng mobile, mạng xã hội như Facebook, Twitter… Học du lịch ở đâu tốt ? ✎ ĐĂNG KÝ TUYỂN SINH TRỰC TUYẾN CAO ĐẲNG 2017 [ninja_form id=5] ✠ Trường Cao đẳng Công nghệ và Thương mại Hà Nội thông báo tuyển sinh các hệ Tuyển sinh hệ cao đẳng chính quy Tuyển sinh hệ Liên thông Trung cấp – Cao đẳng chính quy Tuyển sinh hệ Trung cấp chuyên nghiệp ✠ Trường Tuyển sinh Các khối ngành đào tạo Tuyển sinh ngành Dược Tuyển sinh ngành Điều Dưỡng Tuyển sinh ngành Y sĩ Đa khoa Tuyển sinh ngành Xây dựng Công trình Tuyển sinh ngành Quản lý xây dựng Tuyển sinh ngành Xây dựng dân dụng Tuyển sinh ngành Điện tử – Tự động hóa Tuyển sinh ngành Điện tử Viễn Thông Tuyển sinh ngành Công nghệ thông tin Tuyển sinh ngành Công tác xã hội Tuyển sinh ngành Hướng dẫn viên du lịch Tuyển sinh ngành Chế biến món ăn Tuyển sinh ngành Quản trị khách sạn Tuyển sinh ngành Kế toán Tuyển sinh ngành Tài chính – Ngân hàng Tuyển sinh ngành Quản trị kinh doanh Tuyển sinh ngành Dịch vụ Pháp lý ☞ Mọi thông tin vui lòng liên hệ Trường Cao đẳng Công nghệ và Thương mại Hà Nội ♦Trụ sở chính Tân Lập – Đan Phượng – Hà Nội Điện thoại Hotline ♦Cơ sở 2 Hồ Tùng Mậu Địa chỉ Phòng 102 nhà B số 200 Hồ Tùng Mậu, Mai Dịch, Cầu Giấy, Hà Nội Đối diện ĐH Thương Mại Điện thoại Hotline Email info ✎ Website chính thức ✎ Fanpage chính thức
Sau thời gian chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19, ngành du lịch toàn cầu cuối cùng đã có dấu hiệu phục hồi, dù biến thể Omicron đang khiến nhiều quốc gia siết siết chặt các biện pháp kiểm soát biên giới. Tỷ lệ tiêm chủng tăng lên, nhu cầu bị dồn nén cũng như tiền tiết kiệm tích lũy đã thúc đẩy mạnh mẽ nhu cầu du lịch trong cả năm 2021, khi mà các biện pháp phong tỏa toàn quốc được gỡ bỏ và nhiều quốc gia nới lỏng hạn chế nhập cảnh. Dưới đây là các biểu đồ cho thấy tình hình ngành du lịch toàn cầu sau 2 năm trải qua đại dịch chưa từng có trong lịch sử. SỰ PHỤC HỒI KHÔNG ĐỒNG ĐỀU Theo một phân tích của hãng nghiên cứu và tin tức du lịch Skift, sự phục hồi của ngành du lịch diễn ra không đồng đều giữa các khu vực. Sử dụng hơn 50 chỉ số, phân tích này đã đo lường sự phục hồi du lịch tại các khu vực khác nhau so với năm 2019 – thời điểm trước khi đại dịch bùng phát. Các chỉ số này bao gồm tìm kiếm du lịch, tỷ lệ lấp đầy phòng khách sạn, doanh thu mỗi đêm phòng và tình trạng hủy phòng. “Chúng tôi phát hiện ra rằng có mối tương quan rất chặt chẽ giữa số lượng ca nhiễm Covid-19 mới và sự phục hồi du lịch”, Wouter Geerts, nhà phân tích nghiên cứu cấp cao tại Skift, cho biết. “Khi số ca nhiễm tăng lên, các quốc gia có xu hướng đóng cửa biên giới, áp dụng phong tỏa trong nước, khi đó, hoạt động du lịch ghi nhận sự suy giảm lớn và gần như ngay lập tức”. Theo ông, việc các quốc gia ở Bắc Mỹ như Mỹ, Mexico mở cửa thông thoáng hơn đã hỗ trợ lớn cho ngành du lịch của họ. Ngược lại, chiến lược “không Covid” zero Covid tại nhiều quốc gia châu Á đã gây áp lực lớn cho ngành du lịch, mãi cho tới gần đây mới có dấu hiệu giải tỏa. Trước đó, mỗi khi có ca nhiễm mới được phát hiện, nhiều quốc gia châu Á lập tức áp dụng phong tỏa và xét nghiệm trên diện rộng cùng các biện pháp phòng chống dịch nghiêm ngặt khác, nhà phân tích của Skift cho biết. Tuy nhiên, những tuần gần đây, nhiều quốc gia, bao gồm Mỹ, Canada, Anh và Singapore, đã có động thái hạn chế nhập cảnh từ các quốc gia tại miền Nam châu Phi sau khi Tổ chức Y tế Thế giới WHO gắn nhãn cho Omicron – biến thể Covid-19 được phát hiện lần đầu ở Nam Phi – là “biến thể đáng lo ngại”. Theo WHO, biến thể này hiện đã lan ra 77 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới và có thể đã có tại một số nơi khác mà chưa bị phát hiện. THIỆT HẠI CỦA CÁC HÃNG HÀNG KHÔNG Theo một báo cáo hồi tháng 10 của Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế IATA, năm 2021, các hãng hàng không sẽ nối tiếp xu hướng lỗ ròng kéo dài từ năm ngoái nhưng mức lỗ có thể giảm. IATA dự báo chỉ số khách luân chuyển RPK toàn cầu sẽ tăng trong năm nay, nhưng vẫn chỉ tương đương khoảng 40% mức trước đại dịch. RPK là một chỉ số đo lường lượng khách vận chuyển của ngành hàng không, được tính bằng cách lấy tổng số lượng khách vận chuyển có doanh thu trên các chặng bay nhân với chiều dài những chặng bay đó. Trong khi đó, hãng xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings đã hạ dự báo RPK toàn cầu trong năm 2021 và 2022 do lưu lượng đi lại hàng không quốc tế phục hồi chậm hơn dự kiến và các chuyến đi công tác bị hạn chế. Tổ chức này cũng cảnh báo các hãng hàng không vẫn đối mặt tương lai bất định do sự xuất hiện của biến thể Omicron. “Dù vẫn còn quá sớm để đánh giá tác động của Omicron, các làn sóng lây nhiễm mới và những phản ứng chính sách có thể dẫn tới các hạn chế đi lại và làm đình trệ hoặc tạm thời giảm hoạt động đi lại”, Fitch cho biết trong một báo cáo công bố vào tháng tháng 11. Trở lại với báo cáo của IATA, cơ quan này dự báo Bắc Mỹ sẽ là khu vực duy nhất mà các hãng hàng không ghi nhận lợi nhuận trong năm 2022. ĐẶT PHÒNG KHÁCH SẠN PHỤC HỒI CHẬM Cũng như các hãng hàng không, số lượng đơn đặt phòng của ngành khách sạn chậm phục hồi trong năm 2021. Theo dữ liệu từ Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên hợp quốc UNWTO, sự phục hồi tại các khu vực khác nhau cũng có sự phân hóa lớn. Cụ thể, châu Âu ghi nhận sự phục hồi chậm nhất với số lượng đơn đặt phòng khách sạn từ tháng 1-10/2021 vẫn ở mức thấp hơn 70% so với cùng kỳ năm 2019. Trong khi đó, Trung Đông phục hồi mạnh mẽ nhất với lượng đơn đặt phòng trong giai đoạn này chỉ thấp hơn 13% so với cùng kỳ năm 2019. Theo ông Mike Tansey, giám đốc phụ trách mảng du lịch của hãng tư vấn Accenture, tỷ lệ tiêm vaccine cao cùng với mùa cao điểm du lịch từ châu Âu là động lực chính cho sự phục hồi du lịch của Trung Đông. Châu Âu là nguồn khách quốc tế chủ tạo của khu vực này. “Các nước Trung Đông gần như dẫn dầu thế giới về tỷ lệ tiêm vaccine ngừa Covid-19 nhờ đó khu vực này được hưởng lợi nhanh nhất từ xu hướng phục hồi du lịch”, ông Tansey nhận định với CNBC. TRIỂN VỌNG NGÀNH DU LỊCH NĂM 2022 Dù đại dịch Covid-19 vẫn chưa chấm dứt, nhiều chuyên gia du lịch tỏ ra lạc quan về sự phục hồi của ngành này. “Các chính phủ đang có những động thái rất đáng khích lệ để hồi sinh du lịch. Triển vọng năm 2022 sẽ lạc quan hơn rất nhiều”, Choo Pin Ang, Giám đốc điều hành khu vực châu Á của nền tảng du dịch trực tuyến Expedia, nhận định và dẫn ví dụ về Thái Lan, Malaysia – nơi nhiều chính sách được đưa ra để hỗ trợ phục hồi du lịch. Du khách đi qua một điểm du lịch nổi tiếng tại Milan, Italy giữa đại dịch Covid-19 - Ảnh AFP Hồi tháng 8, một khảo sát trên trang du lịch đã hỏi hơn người trưởng thành về ý định và ưu tiên du lịch của họ trong năm 2022. Theo ông Nuno Guerreiro, giám đốc khu vực châu Á Thái Bình Dương của so với cuộc khảo sát tương tự của năm ngoái, sự khác biệt lớn nhất trong kết quả khảo sát năm nay có liên quan tới làm việc từ xa. Hầu hết người được hỏi – khoảng 59% - cho biết họ sẽ lựa chọn các kỳ nghỉ ngắn ngày hơn nếu như họ có thể nghỉ làm hoàn toàn để đi nghỉ, thay vì vẫn phải làm từ xa trong kỳ nghỉ của mình. Trong khi đó, 61% cho biết sẽ đi du lịch, bất kể hình thức nào, miễn là ngân sách cho phép. Ngoài ra, 79% nói rằng du lịch sẽ trở thành một hình thức chăm sóc bản thân thiết yếu đối với họ. “Ngành du lịch vẫn chịu áp lực đáng kể khi các quốc gia phải vật lộn với các đợt bùng phát dịch hiện tại. Tuy nhiên, điểm mấu chốt là du lịch vẫn là một trong những hoạt động cơ bản trong cuộc sống của con người”, ông nhận định.
phát triển ngành du lịch cho phép