phong tục tập quán miền trung

Tôn kính tăng ni (tiếng vùng này gọi là Sangha) và người già, quan tâm để trẻ em là tập quán của người Myanmar. Du khách khi tiếp xúc với các nhà sư, không nên bắt tay mà chắp tay chào. Theo phong tục Myanmar, cần bỏ giày dép trước khi bước vào nhà. Chào nhau kèm với một nụ cười là tập quán phổ biến của người Myanmar. Từ hai khái niêm trên có thể hiểu rằng: Phong tục tập quán là toàn bộ thói quen thuộc về đời sống của con người được công nhận bởi một cộng đồng, quần thể và coi đó như một nếp sống truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tùy theo mỗi địa phương và tín ngưỡng khác nhau, phong tục tập quán ở mỗi quần thể sẽ có những sự khác biệt với nhau. Ngày 19.9, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã điện đàm với Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường. Hai Thủ tướng khẳng định tầm quan trọng của quan hệ Việt - Trung đối với mỗi nước, nhấn mạnh hai bên sẽ tiếp tục cụ thể hóa nhận thức chung quan trọng đạt được trong các cuộc điện đàm gần đây giữa Tổng Đối với loại hình phong tục tập quán thì đối tượng có thể là những người khác vùng miền, khác về văn hóa như vùng Đông nam bộ, Tây nam bộ, hay nói cách khác là những du khách thuộc các tỉnh phía Nam nước ta; và phong tục tập quán của Lạng Sơn cũng là loại hình hấp Nghi lễ này được thực hành ở miền bắc và miền trung Trung Quốc, các khu vực như tỉnh Sơn Tây, Thiểm Tây và Hà Nam. Nhưng Szeto Fat-ching, một thầy Phong thủy ở Hong Kong, nói rằng "hình thức cổ xưa của phong tục vẫn tồn tại trong các cộng đồng người Hoa ở Đông Nam Á". Hạ Thảo (lược dịch) materi taking simple phone message kelas xi. Đất nước Việt Nam chúng ta có những phong tục tập quán được hình thành từ lâu đời và được giữ gìn đến tận hôm nay. Đó là những giá trị tinh thần vô cùng ý nghĩa, ví như phong tục ngày Tết ở ba miền Bắc – Trung – Nam. Hôm nay, chúng ta hãy cùng Khám phá 4 nét đặc trưng trong phong tục ngày tết ở miền Bắc nhé. 1. Loại cây kiểng chưng ngày Tết Hoa đào là một đặc trung không thể thiếu trong dịp Tết Nguyên đán của người miền Bắc Ở miền Bắc, Tết Nguyên Đán không chỉ là dịp để gặp gỡ, vui vầy mà còn là dịp để chúng ta thể hiện những nghi thức, phong tục cầu mong cho một năm mới an lành, hạnh phúc. Một trong những đặc trưng trong phong tục ngày tết ở miền Bắc đó chính là loại cây kiểng chưng ngày Tết. Hoa đào là một đặc trung không thể thiếu trong dịp Tết Nguyên đán của người miền Bắc. Theo quan niệm dân gian thì màu sắc của hoa đào sẽ mang đến một không khí tươi vui cho mùa xuân. Về mặt phong thủy, hoa đào còn có ý nghĩa xua đuổi tà ma để mang lại nhiều may mắn trong năm mới. Hoa đào chưng tết đẹp là loại đào bích với bông toa, màu đậm và có nhiều cánh. Tuy nhiên, vẫn có nhiều người chuộng chưng đào rừng vừa thanh nhã vừa độc đáo. Ngoài ra, cây quất cũng là một loại cây kiểng Tết được nhiều gia đình miền Bắc chọn để chưng trong nhà vào dịp Tết Nguyên đán. Một cây quất xum xuê có tán đẹp, có quả vàng quả xanh,.. là tượng trưng cho sự trù phú và tài lộc. 2. Phong tục ngày Tết ở miền Bắc thể hiện rõ trong mâm ngũ quả Mâm ngũ quả của người miền Bắc tượng trưng cho ngũ hành với năm loại quả Chuối xanh, phật thủ, loại quả có màu đỏ, loại quả có màu trắng và loại quả có màu đen. Mâm ngũ quả của người miền Bắc tượng trưng cho ngũ hành với năm loại quả Chuối xanh, phật thủ, loại quả có màu đỏ, loại quả có màu trắng và loại quả có màu đen. Chuối xanh tượng trưng cho hành mộc tựa như bàn tay hứng lấy những điều may mắn. Quả phật thủ cũng có thể thay bằng quả bưởi có màu vàng là hành thổ mang ý nghĩa đem phúc lộc tràn vào nhà. Các loại quả màu đỏ như cam, quýt, hồng là hành hỏa. Các quả màu tắng như quả roi, đào là hành kim. Các quả màu đen như mận, hồng xiêm, nho là hành thủy. Một mâm ngũ quả nhiều màu sắc thế này sẽ mang đến nhiều điều may mắn cho gia chủ. Xem thêm Còn bao nhiêu ngày nữa đến Tết 2023? Đếm ngược tết Quý Mão 2023 3. Mâm cỗ Tết đặc biệt được coi trọng Vậy mâm cỗ tết của người miền Bắc có những món ăn rất quen thuộc Bánh chưng, giò, nem, thịt gà, canh măng, dưa hành,… Nét đặc trưng trong phong tục ngày tết ở miền Bắc được thể hiện rõ qua mâm cổ tết. Đây là mâm cỗ rất được coi trọng từ khâu lựa chọn và chế biến. Các món ăn trong mâm cỗ là những món ăn phù hợp với tiết thời se lạnh dịp đầu năm mới. Vậy mâm cỗ tết của người miền Bắc có những món ăn gì? Đó là những món ăn rất quen thuộc Bánh chưng, giò, nem, thịt gà, canh măng, dưa hành,… Các món ăn này được bày trên mâm cỗ một cách đẹp đẽ, tinh tươm thể hiện sự quây quần, đủ đầy với mong ước một năm mới no đủ và thịnh vượng. Chính vì là nét đặc trưng của phong tục ngày tết ở miền Bắc nên mâm cỗ Tết thế này rất quen thuộc, chỉ cần thấy mâm cỗ đủ đầy như thế này là đã thấy không khí tết ngập tràn trong ngôi nhà rồi. 4. Phong tục xông đất của người miền Bắc Ở miền Bắc rất chú trọng vấn đề này, người được gia chủ mời đến xông đất phải là người hợp tuổi, khỏe mạnh và có nhiều điểm tốt Xông đất chính là chọn người đầu tiên đến nhà vào ngày đầu năm mới sau giao thừa. Ở miền Bắc rất chú trọng vấn đề này, người được gia chủ mời đến xông đất phải là người hợp tuổi, khỏe mạnh và có nhiều điểm tốt. Theo quan niệm của dân gian thì người xông đất có được những điểm này sẽ mang đến cho gia chủ những điều tốt đẹp cho cả năm. Nếu bạn để ý sẽ biết được rằng, người miền Bắc thường tránh đi chúc tết vào sáng sớm ngày đầu năm mới để tránh trở thành người xông đất không hợp ý với gia đình. Mỗi vùng miền sẽ có những phong tục ngày tết khác nhau, những phong tục ngày tết ở miền Bắc có mang đến những điều thú vị đối với bạn không? Hãy chia sẻ những nét đặc trưng trong dịp Tết của quê bạn dưới đây nhé. Tham khảo web để tìm mua bất cứ sản phẩm nào bạn cần. >>> Xem thêm Bí quyết chọn quà Tết khi về quê vợ cho cánh mày râu Nguyễn Xuân HươngHello! Mình là Xuân Hương, hiện đang đảm nhận vị trí Content Specialist tại Mong rằng những bài viết của mình có thể cung cấp những thông tin hữu ích đến bạn. Enjoy your time with Việt Nam có ba miền là miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Mỗi miền lại có đặc trưng văn hóa và các nghi lễ thủ tục khác nhau. Thậm chí, dù cùng là thủ tục cưới hỏi thì mỗi miền cũng sẽ có những nét đặc sắc riêng. Thủ tục cưới hỏi miền Bắc thường nặng lễ nghi. Thủ tục cưới hỏi miền Nam đầy sự phóng khoáng. Thủ tục cưới hỏi miền Trung lại đơn giản, không câu nệ vật tục cưới hỏi mỗi miền mỗi khác. Vì vậy, nếu đang quan tâm đến thủ tục cưới hỏi miền Trung thì bạn nên biết nét đặc sắc chính mà MIMOSA WEDDING giới thiệu trong bài viết dưới sẻ chi tiết về lễ ăn hỏi lễ đính hôn / Nguồn ảnh InternetThủ tục cưới hỏi miền Trung gồm những gì?Lễ dạm ngõ – nghi lễ đơn giản nhất trong phong tục cưới hỏi miền TrungLễ ăn hỏi hay lễ đính hônLễ vật cần chuẩn bị cho đám hỏiCác bước tiến hành đám hỏi của người miền TrungLễ cướiLưu ý về người tham gia lễ cướiCác bước chính trong đám cưới của người miền TrungCác kiêng kỵ trong thủ tục cưới hỏi miền TrungLời kếtỞ bất kỳ vùng miền nào thì thủ tục cưới hỏi cũng là nghi lễ vô cùng quan trọng. Nhiều ý kiến cho rằng thực hiện thủ tục cưới hỏi đúng theo tục lệ của cha ông không chỉ là nét đẹp văn hóa. Đồng thời nó cũng là cách để cuộc hôn nhân của cặp đôi được thuận lợi, viên mãn. Ngược lại, việc làm đám cưới không theo phong tục phần nào cho thấy sự không hài lòng của bố mẹ cô dâu hoặc bố mẹ chú rể với dâu mới, rể mới. Đây cũng được xem là điềm báo không may mắn cho cặp lễ cưới được được chuẩn bị, trang trí theo xu hướng nào; cặp đôi cũng cần hiểu về các nghi lễ chính. Đặc biệt cần chú ý đến các nét đặc sắc trong thủ tục cưới hỏi của vùng miền đó. Với miền Trung, thủ tục cưới hỏi thường được làm theo hướng đơn giản, không câu nệ vật trước kia thủ tục cưới hỏi miền Trung có đến 6 bước được gọi là lục lễ. Nó được tiến hành trong 3 năm thì ngày nay việc cưới hỏi đã trở nên đơn giản hơn rất nhiều. Nhiều lễ nghi phức tạp, cầu kỳ đã được cắt giảm. Ngày nay, chỉ còn 3 nghi lễ cơ bản nhất được giữ lại bao gồm lễ dạm ngõ, lễ hỏi và lễ cưới. Thậm chí, nếu khoảng cách giữa hai nhà quá xa thì có thể gộp lễ hỏi và lễ hỏi có cần trao nhẫn không? Nguồn ảnh InternetLễ dạm ngõ – nghi lễ đơn giản nhất trong phong tục cưới hỏi miền TrungLễ dạm ngõ là lễ đơn giản nhất trong thủ tục cưới hỏi miền Trung. Đây là nghi lễ vô cùng quan trọng. Nó đánh dấu lần gặp mặt chính thức đầu tiên giữa hai bên gia đình để trao đổi về đám cưới. Theo phong tục cưới hỏi miền Trung, lễ dạm ngõ được tiến hành khi đôi bạn trẻ xác định mối quan hệ và chính thức muốn về chung một nhà. Hơn nữa, đã thông báo với cha mẹ hai bên và được cha mẹ hai bên đồng ý, ủng lễ dạm ngõ, nhà trai cần mang chai rượu và khay trầu sang nhà gáiLúc này, hai bên gia đình sẽ chọn ngày lành tháng tốt. Hai bạn trẻ là cầu nối để trao đổi thống nhất với nhà gái. Khi được bố mẹ cô gái đồng ý, bố mẹ chàng trai và người đại diện của gia đình. Người đại diện là những người lớn tuổi, có uy tín trong dòng họ như trưởng họ. Họ sẽ mang theo một chai rượu và khay trầu sang nhà cô gái. Đại diện hai bên gia đình sẽ trao đổi để thống nhất các bước tiếp theo trong lễ cưới cho đúng với phong tục của vùng miền và yêu cầu của hai bên gia làm lễ gia tiên trong lễ đính hôn và lễ cưới về mặt ý nghĩa không quá khác nhau / Nguồn ảnh InternetLưu ý Với những gia đình ít người hoặc có hoàn cảnh đặc biệt thì chỉ cần một người lớn, có tiếng nói trong gia đình cùng chàng trai đến nhà gái để thực hiện lễ dạm ăn hỏi hay lễ đính hônLễ ăn hỏi còn được gọi là lễ đính hônNghi lễ thứ hai trong phong tục cưới hỏi người miền Trung là lễ đính hôn. Như đã chia sẻ ở trên, người miền Trung không quá nặng vật chất nhưng rất tôn trọng lễ nghi. Do đó, lễ vật chuẩn bị trong lễ ăn hỏi không quá cầu kỳ đắt đỏ. Nhưng mỗi bước trong nghi lễ này đều được thực hiện một cách nghiêm túc, chuẩn tục đám cưới miền Trung bị ảnh hưởng của truyền thống văn hóa cung đình Huế. Do đó thủ tục đám hỏi miền Trung càng cầu kỳ và mang đặc điểm của văn hóa cung đình Việt Nam vật cần chuẩn bị cho đám hỏiThông thường đám hỏi của người miền Trung cần chuẩn bị 5 mâm lễ cơ bản. Mâm lễ bao gồm mâm quả trầu cau, mâm quả trà, đôi rượu, mâm bánh kem đính hôn, mâm nem chả, mâm ngũ quả. Tùy theo từng gia đình mà số mâm và lễ bên trong có thể thay đổi cho phù hợp. Ví dụ, có gia đình không sử dụng bánh kem mà dùng mâm quả bánh xu xê truyền thống. Nhưng nếu dùng mâm bánh xu xê thì mâm này và mâm nem chả phải có số cặp chẵn. Riêng mâm quả trầu cau và mâm ngũ quả có thể kết thành hình rồng phượng độc đáo để thêm may mắn, phúc tục cưới hỏi miền trungNgoài các mâm quả trên, nhà trai thường chuẩn bị thêm 1 mâm nhỏ để đựng tiền treo. Mâm này còn gọi là mâm lễ đen. Mâm lễ này cũng được đặt lên bàn thờ nhà gái để kính báo tổ tiên. Với những gia đình khá giả, phía nhà trai thường chuẩn bị thêm một khay lễ đựng áo dài và trang sức cho cô dâu mới. Trong ngày ăn hỏi, cô dâu sẽ thay áo dài mới, đeo trang sức nhà trai đưa tặng rồi mới xuống chào họ hàng hai ý Ngoài lễ đen, mẹ chú rể có thể trao cho cô dâu một phong bì gọi là tiền mừng dâu để thể hiện sự quan tâm của mẹ chồng với nàng dâu đình khá giả có thể chuẩn bị cả lễ đen và mâm đựng trang sức tặng cho cô dâuCác bước tiến hành đám hỏi của người miền TrungSo với lễ dạm ngõ, quy mô lễ hỏi lớn hơn nhiều. Cả đoàn nhà trai đến nhà gái và khách mời của nhà gái đều đông hơn. Đến giờ đẹp đã được định từ trước, đoàn nhà trai cùng đội bê tráp sẽ đưa lễ vật vào nhà gái. Thứ tự người bước vào nhà gái cũng được quy định rõ ràng. Đi đầu luôn là trưởng đoàn dẫn lễ, tiếp đến là những người cao tuổi có uy vọng trong họ nhà trai thường xếp theo vai bé từ trên xuống dưới. Cuối cùng mới là chú rể và các nam thanh niên hỗ trợ bê đoàn nhà trai bước vào, chú rể hoặc cha mẹ cô dâu sẽ đón cô dâu ra. Các thủ tục khác trong đám hỏi như trao nhận lễ hỏi, nghe đại diện hai họ phát biểu…. sẽ được tiếp tục. Sau đôi lời phát biểu của đại diện hai họ, nhà gái đặt một phần lễ mà nhà trai mang đến lên bàn thờ tổ tiên. Sau đó để tiến hành nghi thức thắp nhang cho tổ tiên. Hoàn tất lễ, cô dâu sẽ đi rót trà và mời khách cùng chung vui với gia khi đoàn nhà trai ra về, nhà gái sẽ chia lại một phần bánh trong các mâm lễ nhà trai đem đến gọi là lễ lại quả. Hơn nữa, ngay khi nhà trai ra về, những khay quả trống không sẽ được lật ngửa nắp để cho thấy nhà cô dâu mừng gả con gái và đã tiếp nhận lễ của nhà tục cưới hỏi miền trungLễ cướiLễ cưới là nghi thức trung tâm của thủ tục cưới hỏi miền Trung. Trong lễ cưới, nhà trai sẽ cử một đoàn đến nhà gái để đón dâu. Anh em họ hàng nhà gái cũng cắt cử người để đưa cô dâu về nhà ý về người tham gia lễ cướiTheo phong tục cưới hỏi của người miền Trung, số người đón và đưa dâu đều tương ứng với khi các con số sinh hoặc lão để cầu mong may mắn đến với cặp đôi trẻ. Nhưng số người đưa dâu thường lớn hơn số người đến hôn thực hiện thủ tục cưới hỏi ở miền Trung cần được lựa chọn cẩn thận. Thông thường người chủ hôn sẽ là cao niên trong dòng tộc của nhà trai hoặc nhà gái. Hơn nữa, người này có mối quan hệ mật thiết với gia đình và sẵn sàng hỗ trợ để chúc phúc cho cặp đôi trẻ. Người chủ hôn cần khỏe mạnh, vợ con đầy đủ, gia đạo thuận hòa, có tuổi hợp với tuổi của cô dâu chú phù dâu, phù rể tham gia lễ cưới hỏi miền Trung đều là người chưa lập gia đình, tính tình nhanh nhẹn, hoạt bát…Các bước chính trong đám cưới của người miền TrungNghi thức thắp hương kính báo gia tiên trong lễ cướiKhi đoàn đón dâu đến đến trước cổng nhà gái, trưởng đoàn sẽ cử một người mang lễ vật vào nhà để trình giờ xin được làm lễ. Giờ này đã được thống nhất từ trước để mọi nghi lễ diễn ra một cách thuận lợi. Nếu nhà gái có bày bàn thờ gia tiên, đại diện nhà trai cần mang theo một đôi nến hồng để gắn lên chân nến có giờ đẹp, đoàn nhà trai sẽ vào thực hiện lễ xin dâu. Khi được nhà gái chấp nhận, chú rể sẽ dắt tay đưa cô dâu ra xe để chuẩn bị thực hiện lễ ở nhà trai. Lúc này, đoàn nhà gái sẽ cùng đi để đưa cô dâu về nhà chồng. Ở nhà trai, lễ đón nhận dâu mới cũng không quá phức tạp. Dưới sự chủ trì của người chủ hôn, cô dâu chú rể làm lễ, nghe cha mẹ chồng dạy bảo và nhận lời chúc phúc từ mọi thúc buổi lễ, đoàn nhà gái sẽ ra về trước. Lúc này cô dâu chú rể sẽ bưng mâm đựng trầu cau và thuốc lá ra cổng đứng tiễn. Người nhà gái có thể lấy miếng trầu hoặc điếu thuốc và bỏ vào khay những đồng tiền lẻ có mệnh giá dao động từ đến 50,000 VNĐ để cầu may. Sau 3 ngày, vợ chồng sẽ về thăm nhà cô dâu lễ lại mặt hoặc lễ phản bái. Cũng có những gia đình cho phép đôi vợ chồng trẻ về thăm nhà cô dâu ngay sau lễ kiêng kỵ trong thủ tục cưới hỏi miền TrungTheo tục lệ cũ, mẹ cô dâu không thể đưa con gái về nhà chồngTục lệ cưới hỏi miền Trung ngày càng đơn giản. Nhưng trong đó có một số kiêng kỵ trong thủ tục cưới hỏi miền Trung nhưPhụ nữ đang mang thai không được vào trang trí phòng cưới cho cô dâu chú rể. Cũng tuyệt đối không được ngồi lên giường đã chào bố mẹ để về nhà chồng; cô dâu nên đi thẳng, không ngoáy đầu quay lại nhìn người thân. Điều này thể hiện việc cô dâu sẽ chuyên tâm lo việc nhà chồng và lo cho gia đình đường đưa dâu, nếu đi qua ngã ba, ngã năm, ngã bảy hay qua sông, qua cầu thì đoàn đón dâu cần thả một ít tiền lẻ, gạo, muối xuống để hành trình được thuận thủ tục đám cưới miền Trung cũ, mẹ cô dâu không thể đưa con gái về nhà chồng. Những ở một số địa phương, quan niệm này đã có phần thay đổi, mẹ cô dâu có thể cùng đi đưa con nhưng phải ngồi ở một đoàn xe khác….Người đưa dâu đón dâu đều cần được chọn lựa kỹ. Người đang có tang không được tham dự lễ đón và đưa dâu. Người ta quan niệm rằng người có tang sẽ đem vận rủi đến cho cặp đôi…Nghi thức trao nhận mâm quả trong lễ hỏiLời kếtGiờ bạn đã biết thủ tục cưới hỏi miền Trung gồm những bước nào, có những nét đặc sắc nào chưa? Mong rằng những thông tin mà MIMOSA WEDDING cung cấp sẽ giúp bạn có đám cưới ngọt ngào, đúng theo phong tục truyền thống!MIMOSA WEDDINGĐịa chỉCơ sở 1 133 Giáp Nhất – Thanh Xuân – Hà NộiCơ sở 2 243 Giáp Nhất – Thanh Xuân – Hà NộiCơ sở 3 94 Vũ Trọng Phụng – Thanh Xuân – Hà NộiHotline 0978 886 133 Mr Đỉnh 0967 868 133 Mr Đức Gmail anhvienmimosa Website viết cùng chuyên mục Ở Việt Nam thì đi từ Bắc vào Nam trải dài trên địa hình chữ S, dừng chận tại nơi đâu ta cũng đều cảm nhận được hương vị đặc trưng của văn hóa từng vùng miền. Đến với đất nước này, người đến kẻ đi nhiều vô kể, nhưng trong lòng luôn vương vấn 1 lần tham gia vào lễ hội đặc sắc của vùng miền. Lễ Hội Việt Nam là một sự kiện văn hóa tổ chức mang tính cộng đồng, được chia làm 2 phần đó là phần "Lễ" và phần "Hội". Phần "Lễ" là hệ thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. Về phần "Hội" thì có nghĩa là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống. Miền Bắc là nơi trọng điểm của Việt Nam, là nơi tập trung nét tinh hoa văn hóa cổ xưa nhất của đất nước lúc bấy giờ nên nơi đây tập trung rất nhiều Lễ Hội đặc sắc mang đậm văn hóa vùng miền. Bên cạnh đó thì miền Trung và miền Nam là 2 vùng mang nét hiện đại hơn nhưng vẫn không kém phần cổ kính. Nói đến Miền Trung thì nơi đây có 4 Lễ hội lớn được tổ chức hằng năm, tuy không nhiều bằng Miền Bắc nhưng phần đặc sắc vẫn không thua kém. XEM THÊM ►Tour Du Lịch Đà Nẵng giá rẻ ►Tour Du Lịch Đà Nẵng - Huế 1 ngày ►Lễ Hội Mùa Đông ở Bà Nà Hills Bạn biết gì về những Lễ Hội ở Miền Trung? 1. Lễ Hội Cầu Ngư Nhắc đến Miền Trung thì không thể không nhắc đến Lễ Hội Cầu Ngư của những người dân làng chài. Vào tháng Giêng hằng năm, người dân làng chài sẽ từng bừng tổ chức Lễ Hội Cầu Ngư với mong muốn là cầu cho một vùng trời yên biển lặng, tôm cá vào đầy khoang. Lễ Hội Cầu Ngư diễn ra là để thờ cúng "Cá Ông" - tức là cá voi. Sở dĩ người dân làng chài ở miền Trung có tục Thờ cúng "Cá Ông" vì đây là một loài cá thần, người xưa kể rằng loài cá này đã giúp ngư dân vượt qua bao hoạn nạn khi đang lênh đênh trên biển cả. Sau khi ăn tết xong, người dân làng chài sẽ lập đền làm Lễ tế Cá Ông, thường thì người ta sẽ lồng ghép dưới hình thức Lễ Hội Cầu Ngư và ra quân đánh bắt vụ cá Nam. Lễ Hội Cầu Ngư Lễ Hội Cầu Ngư thường được diễn ra trong 2 ngày. Vào ngày lễ chính, làng sẽ chọn ra một ban nghi lễ gồm các cụ cao niên, hiền đức, có uy tín với bạn chài và không bị mắc tang chế. Vị chánh bái dâng đồ tế lễ và đọc văn tế nói lên lòng biết ơn của dân làng đối với công đức Cá Ông và cầu mong mùa đánh bắt bội thu, thuyền bè đi khơi về lộng an toàn. Trong Lễ Hội còn có hình thức múa hát "Bả Trạo" bả nắm; trạo chèo đò, hình thức múa hát này nhằm diễn tả tinh thần đoàn kết giữa các thành viên trên 1 con thuyền, cùng nhau vượt qua sóng lớn gió to, cùng nhau mang về thật nhiều tôm cá. Hát múa "Bả Trạo" không những là một nghi thức tế lễ mà đây còn là một hoạt động nghệ thuật hết sức đặc sắc. Lễ Hội Cầu Ngư Bên cạnh phần nghi lễ chính còn có phần hội, mỗi địa phương ở các tỉnh miền Trung đều có những cách tổ chức Lễ nghi khác nhau nhưng chung lại đều có những trò chơi dân gian đặc trưng vùng biển như lắc thúng, kéo co, đua thuyền, bơi lội, thi đan lưới,...ngoài các trò chơi dân gian đặc sắc thì phần "hội" không thể thiếu các chương trình biểu diễn nghệ thuật như hát tuồng, hát hò khoang, hát bội và hát bài chòi,...Lễ Hội Cầu Ngư không những là một phong tục tập quán mà đây còn được xem như nét tinh hoa văn hóa đặc sắc của các ngư dân làng chài Việt Nam. Lễ Hội Cầu Ngư >>>Xem thêmTour Du Lịch Huế giá rẻ>>Xem thêm Du lịch trọn gói hay du lịch tự túc>>Xem thêm Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm Đà Nẵng<<< Nét tinh hoa văn hóa của đất nước Việt Nam sao mà tinh tế, cổ kính đến thế. Hãy cùng Art Travel đồng hành trong chuyến hành trình tìm về nơi Giao Thoa của nền văn hóa đất trời này nhé! Lễ Hội Miền Trung - Nơi Giao Thoa Văn Hóa Đất Trời Biên tập Ngọc Quỳnh Art-er, Nguồn Internet Do vị trí địa lý miền Trung nằm giữa 2 miền Bắc – Nam nên phong tục đám hỏi cũng có sự ảnh hưởng nhẹ của hai miền này, do đó cũng mang một ít tính ràng buộc của miền Bắc và pha chút phóng khoáng của miền Nam. Nghi thức ăn hỏi miền Trung thì khá nặng về nghi lễ và lại thiên nhẹ về vật chất vì từ trước tới giờ người Trung đa phần trọng lễ nghi hơn vật chất. Sau đây chúng tôi xin chia sẻ phong tục tập quán đám hỏi của người miền Trung các bạn cùng tìm hiểu nhé. Phong tục tập quán đám hỏi của người miền Trung Phong tục tập quán đám hỏi của người miền Trung. DẠM NGÕ LỄ ĐI NÓI Trong lễ dạm ngõ thì cha mẹ chàng trai sẽ mang một chai rượu, và khay trầu cau sang nhà gái đặt vấn đề về chuyện cưới xin. 2 LỄ ĐÁM HỎI LỄ ĐÍNH HÔN – Lễ vật sẽ bao gồm năm mâm quả Quả trầu cau với 105 quả cau tượng trưng cho câu nói trăm năm hạnh phúc,và quả trà rượu, phong bì tiền để hỗ trợ nhà gái tổ chức lễ đám hỏi hôm đó và vàng thường là đôi hoa tai nhưng cũng có nhà đi nhẫn, quả bánh kem đính hôn, quả nem chả với số lượng chẵn cặp, mâm ngũ quả được kết rồng phượng cầu kỳ. Cũng có nhà theo tục cũ đi thêm một quả bánh su sê nữa. Phong tục tập quán đám hỏi của người miền Trung. – Ngoài vòng tay, nhẫn hoặc hoa tai vàng,thì mẹ chồng còn trao cho con dâu một phong bì tiền mừng dâu. Phong bì tiền dọn trong quả trà rượu sẽ đưa cho ba mẹ cô. Số tiền này ngay sau đó thường được nhà gái cho lại đôi vợ chồng. – Nói về số lượng người trong đoàn rước dâu, thì người Đà Nẵng quan niệm tổng số phải ứng với số sinh hoặc lão 1, 2, 3, 4, 5, 6… tương ứng là sinh, lão, bệnh, tử, sinh, lão…. Đoàn đưa dâu của nhà gái có số lượng nhiều hơn miễn là cũng đảm bảo số sinh hoặc lão. – Và nghi thức sẽ được tiến hành và bao gồm 1. Nghi thức rước lễ vật từ nhà trai đem sang nhà gái Đi đầu sẽ là trưởng đoàn dẫn lễ, tiếp đó là những người cao tuổi được sắp xếp theo vai vế từ trên xuống dưới. Cuối cùng sẽ là chú rể và đội bê tráp. 2. Nghi thức nhận lễ và tiến hành làm lễ Sau khi đoàn rước lễ của nhà trai đã vào nhà thì nhà gái sẽ ra đón khách và đội bê tráp nữ sẽ ra nhận lễ. Lúc nào mà đội bê tráp nam sẽ trao tráp cùng phong bao lì xì đã chuẩn bị trước và trao cho đội tráp nữ, đồng thời đội bê tráp nữ sẽ trao lại phong bao lì xì đã được chuẩn bị trước cho đội tráp nam. Sau đó, hai đội để mâm tráp lên bàn đã được nhà gái chuẩn bị trước. Và cuối cùng chú rể hoặc ba mẹ cô dâu sẽ xuống đón cô dâu để làm lễ. Và sau cùng đại diện hai bên gia đình sẽ có đôi lời phát biểu trước 2 họ để minh chứng cho lễ đám hỏi của cặp đôi. Và nhà gái sẽ đặt một phần lễ vật nào đó lên bàn thờ tổ tiên, tiếp đó là nghi thức thắp nhang tổ tiên. Sau trước hoàn tất thì cô dâu sẽ đi rót ấm trà mời khách ăn bánh ngọt. Phong tục tập quán đám hỏi của người miền Trung. 3. Nghi thức lại quả Khi lễ ăn hỏi kết thúc thì nhà gái sẽ chia lại một phần cho nhà trai đó gọi là lễ lại quả. Lưu ý là khi chia lễ vật sẽ dùng tay chứ không được dùng dao. Trên đây là một số nghi thức trong đám hỏi của người miền Trung hi vọng bạn có thể tham khảo và tìm hiểu để có thể hiểu biết thêm về phong tục 3 miền nhé. Chúc các bạn luôn hạnh phúc! lượt xem 93 download Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ Sự khác biệt về cấu trúc địa hình, khí hậu và phân bố dân tộc, dân cư đã tạo ra những vùng văn hoá có những nét đặc trưng riêng tại Việt Nam. Từ cái nôi của văn hóa Việt Nam ở Đồng bằng sông Hồng của người Việt chủ đạo với nền văn hóa làng xã và văn minh lúa nước, đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại Tây Bắc và Đông Bắc. Từ các vùng đất biên viễn của Việt Nam thời dựng nước ở Bắc Trung Bộ đến sự pha trộn với văn hóa Chăm Pa của người Chăm ở Nam Trung Bộ. Từ những vùng đất mới ở Nam Bộ với sự kết hợp văn hóa các tộc người Hoa, người Khmer đến sự đa dạng trong văn hóa và tộc người ở Tây Nguyên. Mời các bạn cùng tham khảo tài liệu để hiểu hơn về văn hóa phong tục của 3 miền Việt Nam. Chủ đề Phong tục 3 miền Việt NamTập quán 3 miền Việt NamTôn giáo - tín ngưỡng Việt NamẨm thực 3 miền Việt NamLễ hội 3 miền Việt NamVõ thuật 3 miền Việt Nam Nội dung Text Chủ đề "Phong tục tập quán 3 miền Việt Nam" CHỦ ĐỀ “PHONG TỤC TẬP QUÁN 3 MIỀN VIỆT NAM” I,GIỚI THIỆU VỀ VĂN HÓA VIỆT NAM -Văn hóa Việt Nam được hiểu và trình bày dưới các quan niệm khác nhau • Quan niệm thứ nhất đó là đồng nhất văn hóa Vi ệt Nam v ới văn hóa c ủa ng ười Việt, trình bày lịch sử văn hóa Việt Nam chỉ như là lịch sử văn minh c ủa người Việt. • Quan niệm thứ hai Văn hóa Việt Nam là toàn bộ văn hóa các dân tộc Vi ệt Nam c ư trú trên mảnh đất Việt Nam, chỉ có văn hóa từng tộc người, không có văn hóa dân tộc/quốc gia. • Quan niệm thứ ba Văn hóa Việt Nam là cộng đồng văn hóa dân tộc/qu ốc gia, đây là nền văn hóa dân tộc thống nhất trên cơ sở đa dạng sắc thái văn hóa tộc người. Khái niệm dân tộc/quốc gia chỉ một quốc gia có chủ quyền, trong đó phần lớn công dân gắn bó với nhau bởi những yếu tố tạo nên một dân tộc. Quan niệm thứ ba này hiện nay đang là quan niệm chiếm số đông bởi các nhà nghiên c ứu, các nhà qu ản lý trong lĩnh vực văn hóa Việt Nam, vì vậy nội dung về văn hóa Vi ệt Nam s ẽ đ ược trình bày theo quan niệm thứ ba, văn hóa Việt Nam theo hướng văn hóa dân tộc. -Đặc trưng + Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đa dạng trên t ất c ả các khía cạnh,người Việt cùng cộng đồng 54 dân tộc có những phong tục đúng đắn, tốt đ ẹp t ừ lâu đời, có nhữnglễ hội nhiều ý nghĩa sinh hoạt cộng đồng, những ni ềm tin b ền v ững trong tín ngưỡng, sự khoan dung trong tư tưởng giáo lý khác nhau c ủa tôn giáo, tính c ặn k ẽ và ẩn dụ trong giao tiếp truyền đạt của ngôn ngữ từ truyền thống đến hiện đ ại c ủa văn hóa,nghệ thuật. +Sự khác biệt về cấu trúc địa hình, khí hậu và phân bố dân tộc, dân c ư đã tạo ra những vùng văn hoá có những nét đặc trưng riêng tại Vi ệt Nam. T ừ cái nôi c ủa văn hóa Việt Nam ở đồng bằng sông Hồng của người Việt chủ đạo với nền văn hóa làng xã và văn minh lúa nước, đến những sắc thái văn hóa các dân t ộc mi ền núi t ại Tây B ắc và Đông Bắc. Từ các vùng đất biên viễn của Việt Nam thời dựng n ước ở Bắc Trung B ộ đến s ự pha trộn với văn hóa Chăm Pa của người Chăm ở Nam Trung B ộ. T ừ nh ững vùng đ ất m ới ở Nam Bộ với sự kết hợp văn hóa các tộc người Hoa, người Khmer đến s ự đa d ạng trong văn hóa và tộc người ở Tây Nguyên. +Với một lịch sử có từ hàng nghìn năm c ủa người Vi ệt cùng v ới nh ững h ội t ụ v ề sau của các dân tộc khác, từ văn hóa bản địa của người Vi ệt c ổ từ thời Hồng Bàng đ ến những ảnh hưởng từ bên ngoài trong trong hàng nghìn năm nay. Với nh ững ảnh h ưởng t ừ xa xưa của Trung Quốc và Đông Nam Á đến những ảnh h ưởng c ủa Pháp t ừ th ế k ỷ 19, phương Tây trong thế kỷ 20 và toàn cầu hóa từ thế kỷ 21. Vi ệt Nam đã có nh ững thay đ ổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử, có những khía cạnh mất đi nh ưng cũng có nh ững khía cạnh văn hóa khác bổ sung vào nền văn hóa Việt Nam hiện đại. -Tổ chức xã hội Từ ngàn năm nay, hai đơn vị xã hội quan trọng nhất trong văn hóa là Làng thôn và Nước quốc gia. Tục ngữ Việt Nam có câu "Làng đi đôi với n ước". Các đ ơn v ị tổ chức trung gian là Huyện và Tỉnh. -Văn hóa Việt Nam theo quan điểm dân tộc học + Tín ngưỡng • Người xưa cho rằng bất cứ vật gì cũng có linh hồn, nên người ta th ờ r ất nhi ều thần, nguyên thủy họ thờ thần Mặt Trời, thần Mặt Trăng, thần Đất, thần Sông, thần Biển, thần Sấm, thần Mưa,...những vị thần gắn với những ước mơ thiết thực của cuộc sống người dân nông nghiệp. Đi sâu vào cuộc s ống h ằng ngày h ọ th ờ thần Nông là thần trông coi việc đồng áng, thần Lúa, thần Ngô với hy vọng lúc nào ngô lúa cũng đầy đủ. Không chỉ các vị thần gắn với đời sống vật chất, các dân t ộc còn thờ các vị thần gắn với đời sống tinh thần của họ. Người Việt th ờ các th ần Thành Hoàng, các vị anh hung dân tộc, các vị thần trong đạo mẫu. Họ là các vị thần có công lớn với đất nước, với làng xã, dân chúng th ờ phụng các v ị th ần này đ ể t ỏ lòng biết ơn và cầu mong các vị phù hộ họ. Cũng như người Vi ệt,người Hoa th ờ các vị thần Quan Công,Thần Tài. Người Chăm thờ các vị thần như Po Nagar, Po Rome.... • Thờ cúng tổ tiên và cúng gi ỗ người đã m ất là m ột t ục l ệ lâu đ ời c ủa ng ười Vi ệt và một số dân tộc khác. Họ tin rằng linh hồn của tổ tiên cũng ở bên cạnh con cháu và phù hộ cho họ. Chính vì như vậy nên gia đình nào cũng có bàn thờ tổ tiên và bàn thờ được đặt nơi trang trọng nhất trong nhà. Ngoài các ngày gi ỗ, tết thì các ngày mùng một, ngày rằm họ thắp hương như một như một hình thức thông báo v ới t ổ tiên ông bà. Nói đến tục thờ cúng tổ tiên, người ta đều biết t ới m ột ngày gi ỗ t ổ chung cho cho người Việt đó là ngày giỗ tổ Hùng Vương vào ngày 10 tháng 3 âm lịch + Tôn giáo • Trên danh nghĩa, các tôn giáo ở Việt Nam gồm Phật giáo Đại thừa, Khổng giáo và Đạo Giáođược gọi là "Tam giáo". Có một số tôn giáo khác như Công giáo Rome,Cao Đài và Hòa Hảo. Những nhóm tôn giáo có ít tín đ ồ h ơn khác g ồm Ph ật giáo Tiểu Thừa, Tin lành và Hồi giáo. • Phần đông đa số người dân Việt Nam xem họ là nhưng người không có tín ngưỡng, mặc dù họ cũng có đi đến các địa điểm tôn giáo vài lần trong m ột năm. Ng ười Vi ệt Nam được cho là ít có tinh thần tôn giáo, các tôn giáo th ường đ ược t ập trung ở m ặt thờ cúng, mặt giáo lý ít được quan tâm. • Với sự biến động của lịch sử các dân tộc tại Việt Nam, trải qua hơn 10 thế kỷ Bắc Thuộc , đời sống tinh thần nói chung của người dân Vi ệt Nam b ị ảnh h ưởng r ất nhiều của văn hoá Trung Hoa. Với ba hệ tư tưởng Tam giáo đã thâm nh ập vào đ ời sống tinh thần cũng như vào tôn giáo của người Việt Nam là Đạo giáo, Nho giáo và Phật giáo. Đạo giáo và Nho giáo có nguồn gốc từ Trung Qu ốc và thâm nh ập vào Việt Nam từ những thế kỷ đầu công nguyên qua tầng l ớp thống tr ị người Trung Hoa. • Phật giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ và có hai phái đã du nhập vào Vi ệt Nam b ằng hai ngả khác nhau phái Đại thừa vào Việt Nam qua Trung Quốc cùng với Đạo giáo và Nho giáo. Còn phái Tiểu Thừa qua các nước Đông Nam Á láng gi ềng vào Vi ệt Nam thịnh hành ở cộng đồng người Khmer ở Đồng bẳng sông Cửu Long. Tín đồ đạo Cao Đài ở Tây Ninh • Tam giáo có những thời kỳ phát triển rất m ạnh và cũng có lúc m ờ nh ạt t ại Vi ệt Nam, nhưng nhìn chung ảnh hưởng của Tam giáo rất sâu rộng trong các t ầng l ớp dân chúng, nhất là Phật giáo . Và đến lượt mình, các tầng lớp dân chúng t ại Vi ệt Nam đã tiếp thu các tôn giáo mới một cách có chọn lọc và sáng tạo, hay nói cách khác các tôn giáo mới du nhập đã được bản địa hoá để phù h ợp v ới phong t ục t ập quán và tín ngưỡng của người dân địa phương • Công giáo được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 16, tuy vi ệc truyền đạo lúc b ấy giờ gặp nhiều khó khăn nhưng ở Việt Nam từ lúc đầu cũng đã có một số l ượng người theo Công giáo, từ cuối thế kỷ 19 khi thực dân Pháp đã xâm l ược hoàn toàn Việt Nam thì việc truyền đạo mới được tự do dễ dàng. Hiện nay Vi ệt Nam có khoảng 8% dân số là tín đồ Công giáo, đứng hàng th ứ 2 ở Đông Nam Á sau Philippines. • Cùng với Công giáo, một hệ phái khác của đạo Cơ Đ ốc là Tin lành cũng xâm nh ập vào Việt Nam từ đầu thế kỷ 20, đạo Tin Lành được phổ biến tới các dân t ộc thi ểu số vùng Tây Bắc, Tây Nguyên,...ước tính hiện nay có khoảng h ơn 1 tri ệu ng ười theo đạo • Đạo Hồi là tôn giáo của một bộ phận người Chăm ở Việt Nam, được du nhập vào từ thế kỷ 15 tại vương quốc Chăm Pa ở miền Trung Việt Nam , sau đó theo chân một bộ phận người Chăm di cư tới vùng An Giang,Tây Ninh vào thế kỷ 19 Ngoài các tôn giáo du nhập từ bên ngoài trên, tại miền Nam Vi ệt Nam có các tôn giáo Hòa Hảo và Cao Đài. Đây là hai tôn giáo bản địa Vi ệt Nam, đ ạo Hoà H ảo đ ược sáng l ập t ừ năm 1939 và đạo Cao Đài được sáng lập từ năm 1926. Hi ện nay hai tôn giáo b ản đ ịa này phát triển mạnh khắp Nam Bộ và ra cả một số tỉnh ởNam Trung Bộ và Tây nguyên. + Ngôn ngữ Về mặt ngôn ngữ, các nhà dân tộc học đã chia các dân t ộc ở Vi ệt Nam thành 8 nhóm ngôn ngữ của họ • Nhóm Việt-Mường gồm người Việt, người Mường, người Chứt, người Thổ • Nhóm Tày-Thái gồm người Tày, Thái, Nùng, Bố Y, Sán Chay, Lào,... • Nhóm Dao-Hmông gồm người Hmông, Dao, Pà Thẻn,... • Nhóm Tạng-Miến gồm người Hà Nhì, Lô Lô, Si La, La Hủ,... • Nhóm Hán gồm người Hoa, Sán Dìu, Ngái,... • Nhóm Môn-Khmer gồm người Khmer, Kháng, Hrê, X ơ Đăng, Ba Na, Kh ơ Mú, C ơ Ho, Mạ, Xinh Mun,... • Nhóm Mã Lai-Đa đảo gồm người Chăm, Gia Rai, Ê Đê, Ra Glai, Chu Ru,... • Nhóm hỗn hợp Nam Á gồm la Chí, La Ha, Pu Chéo, Cơ Lao,... Tiếng Việt thuộc về ngôn ngữ Việt-Mường, hiện nay là ngôn ngữ chính thức c ủa n ước Việt Nam, là tiếng mẹ đẻ của người Việt và đồng thời là ngôn ngữ hành chính chung c ủa 54 dân tộc sống trên đất nước Việt Nam, tiếng Vi ệt được 86% người dân s ử d ụng. M ặc dù là ngôn ngữ chung của người Việt nhưng nó có sự khác biệt về mặt ngữ âm và từ vựng ở các vùng miền dẫn tới phương ngữ Tiếng Việt được phân chia làm nhi ều vùng phương ngữ khác nhau từ miền Bắc, miền Trung và miền Nam II,PHONG TỤC TẬP QUÁN BA MIỀN VIỆT NAM Địa điểm của 3 miền + Miền Bắc Tây Bắc Bộ,Đông Bắc Bộ, Đồng bằng sông Hồng. + Miền Trung Bắc Trung Bộ,Tây Nguyên, Nam Trung Bộ. +Miền NamĐông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long. 1,Phong tục "Phong" là nền nếp đã lan truyền rộng rãi, 'Tục" là thói quen lâu đ ời. N ội dung phong tục bao hàm mọi mặt sinh hoạt xã hội....Phong t ục có th ứ tr ở thành lu ật t ục, ăn sâu, bén rễ trong nhân dân rất bền chặt, có sức mạnh hơn cả những đạo lu ật. Trong truyền thống văn hoá của dân tộc ta, có nhiều thuần phong m ỹ t ục c ần cho đ ạo lý làm người, kỷ cương xã hội. Sớm nhất được nhắc đến trong lịch sử là tục ăn trầu có từ thời Hùng V ương trải qua hàng nghìn năm người Việt cùng một số dân tộc khác vẫn giữ được tập tục này trong cu ộc sống ngày nay, tục ăn trầu bắt nguồn từ truyện sự tích Trầu Cau để r ồi thành bi ểu t ượng cho tình anh em, vợ chồng của người Việt, theo thời gian ý nghĩa c ủa tục ăn tr ầu đ ược m ở rộng sang việc giao hiếu, kết thân của người Việt Nam. Cùng ra đời từ xa xưa với tục ăn trầu là phong tục đón năm mới hay còn gọi là T ết, T ết vừa là một phong tục đồng thời cũng là một tín ngưỡng và cũng là m ột l ễ h ội c ủa ng ười Việt cùng một số dân tộc khác. Một số dân tộc khác đón năm mới trong thời gian khác và tên gọi đặc trưng của mình như Chol Chnam Thmaykhoảng tháng 4 c ủa người Khmer,Kate khoảng tháng 10 của người Chăm Bàlamôm,...TừTết Nguyên Đán đón năm mới, theo thời gian với những ảnh hưởng từ Trung Quốc, người Vi ệt Nam b ổ sung thêm vào những phong tục Tết khác như Tết Nguyên Tiêu,Tết Đoan Ngọ ,Tết Trung Thu ,T ết Thanh Minh. *Miền Bắc “Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ / Cây nêu ngày T ết bánh ch ưng xanh” Trước Tết miền Bắc sẽ lành lạnh trong những hạt mưa xuân nhè nh ẹ. Ch ợ T ết mi ền B ắc cũng sẽ có nhiều loại trái cây đủ để chuẩn bị cho mâm ngũ quả thật đẹp. Tuy thế mân ngũ quả miền Bắc không đọc lái như miền Nam để thành m ột câu trọn v ẹn ý nghĩa nh ưng trước hết là phải đẹp. Một nải chuối thật to để cầu cho việc con cháu đủ đầy, m ột trái bưởi cùng những chiếc lá xanh như trụ cột gia đình, rồi sẽ đan xen vào đó những trái qu ất vàng tươi, những trái táo đỏ rực. Hai bên của tủ thờ sẽ để 2 cây mía cho ông bà ông vải ch ống gậy lên tr ời c ầu bình an cho con cháu. Tủ thờ bao giờ cũng được bày biện đẹp mắt nhất, vì người khách khi bước vào nhà sẽ nhìn thấy nó đầu tiên. Ngoài mâm ngũ quả ra, trên đó còn đ ược bày bi ện bát đũa, những gói bánh nhiều màu, những gói kẹo to thật là to. Khi khách t ới ch ơi nhà s ẽ đánh giá được tình hình kinh tế của gia đình trong năm trước như th ế nào qua nh ững đ ồ đ ược bày biện. Miền Bắc thường chọn cành đào đỏ để cắm trên bàn thờ hoặc cây đào trang trí trong nhà, theo quan niệm người Trung Quốc, đào có quyền lực trừ ma và m ọi xấu xa, màu đ ỏ ch ứa đựng sinh khí mạnh, màu đào đỏ thắm là lời cầu nguyện và chúc phúc đầu xuân. Về ẩm thực miền Bắc chắc hẳn ai cũng đã từng nghe câu “Thịt m ỡ dưa hành câu đ ối đ ỏ / Cây nêu ngày Tết bánh chưng xanh” và thấy ngay hương vị Tết Bắc thật đậm đà. Người miền Bắc có khá nhiều tục kiêng trong ngày Tết như Kiêng đ ổ rác, kiêng quét nhà, kiêng cho lửa, kiêng cho nước, tránh nói giông hay chọn người "xông nhà" phải hợp tuổi,... *Miền Trung Giao thoa giữa hai miền đất nước Là miền đất giao thoa nên phong tục tập quán tại các tỉnh miền Trung có nhi ều đ ặc đi ểm giống với miền Bắc và miền Nam. Mâm ngũ quả tại miền Trung có cách bài trí t ương t ự như miền Bắc với chuối xanh, bưởi vàng, quất và đặc biệt là trái ớt đỏ. Nhưng loài hoa người miền Trung hay chơi ngày Tết lại giống miền Nam là hoa mai. Trên mâm cỗ ngày Tết của người miền Trung, bên cạnh đĩa bánh tét, d ưa món, n ắm tré, bò ngâm màu trầm, thường có chén bát nhỏ tôm chua, xinh như một bông hoa, chói chang đỏ như vầng mặt trời mùa xuân ấm áp. Dưa món Huế Ngày Tết người dân miền Trung sẽ kiêng ăn trứng vịt lộn, th ịt v ịt trong ngày T ết và c ả tháng đầu năm. Người ta cho rằng ăn thịt vịt sẽ gặp xui xẻo. M ột s ố vùng không ăn tôm vì sợ... đi giật lùi như tôm. Nếu ăn trong ngày Tết, công việc sang năm sẽ lùi ch ứ không th ể tiến tới. Kiêng mua quần áo màu trắng, vải trắng suốt tháng Giêng Âm lịch. Miền Nam "Cầu vừa đủ xài thơm" Khác với mâm ngũ quả miền Bắc và miền Trung quả gì cũng có th ể bày lên mâm ngũ quả miền Nam thì được bài trí với năm loại quả kết hợp thành m ột câu có ý nghĩa C ầu, dừa vừa, đủ, xoài xài, thơm danh, hoặc sung Cầu vừa đủ xài thơm hoặc Cầu vừa đủ xài sung. Bên cạnh vẻ đẹp của hình khối và màu sắc, và bên c ạnh ý nghĩa chung là c ầu đ ược qu ả tam đa, ngũ phúc, mỗi thứ trái cây đều có một ý nghĩa. Tại miền Trung và miền Nam sẽ không có sắc đào đua thắm nh ưng thay vào đó là s ắc mai rực rỡ. Hoa mai không chỉ nở rộ vào mùa xuân nơi đất nắng nóng mi ền Nam, mà còn có thể đọc thành chữ “may” trong may mắn. Mai không chỉ đại diện cho mùa xuân trong tranh tứ quý mai, lan, cúc, tùng mà còn đại di ện cho con người có tài đ ức và nhân cách cao thượng mai, lan, cúc, trúc. Thay vì người Bắc có món thịt đông cổ truyền thì người miền Nam bao gi ờ cũng có món thịt trứng kho tàu, những đòn bánh tét thật dài Ở một số vùng quê Nam bộ có tục kiêng không để c ối xay gạo tr ống vào nh ững ngày đ ầu năm. Điều này tượng trưng cho việc thất bát, mất mùa năm tới. Chính vì v ậy, ng ười ta thường đổ một ít lúa vào cối xay, ngụ ý cầu mong năm mới lúa gạo đầy tràn. Ngày Tết có lệ ai đến nhà, bất kể giờ giấc nào, gia chủ cũng dọn c ỗ, m ời u ống r ượu, ăn bánh. Khách không được từ chối bữa ăn, dù no cũng phải nhấm nháp chút ít. 2,Ẩm thực -Trong thực tế nhiều người nhận thấy, một cách cảm tính, đặc trưng ẩm thực Vi ệt Nam là sự trung dung trong cách pha trộn nguyên liệu không quá cay, quá ngọt hay quá béo. Các nguyên liệu phụ gia vị để chế biến món ăn Việt Nam rất phong phú, bao gồm nhi ều lo ại rau thơm, gia vị thực vật, quả hoặc lá non; các gia vị lên men và các gia v ị đặc tr ưng c ủa các dân tộc Đông Nam Á nhiệt đới nói trên được sử dụng một cách tương sinh hài hòa v ới nhau và thường thuận theo nguyên lý "âm dương phối triển". • Âm dương phối triển Các gia vị đặc trưng của các dân tộc Đông Nam Á nhi ệt đới nói trên đ ược sử d ụng m ột cách tương sinh hài hòa với nhau, như món ăn dễ gây lạnh b ụng tính hàn buộc phải có gia vị cay nóng tính nhiệt đi kèm và ngược lại. Các nguyên liệu tính nóng ấm phải được nấu cùng nguyên liệu tính lạnh mát để tạo sự cân bằng cho món ăn. Các món ăn kỵ nhau không thể kết hợp trong một món hay không được ăn cùng lúc vì không ngon, hoặc có khả năng gây hại cho sức khỏe cũng đ ược dân gian đúc k ết thành nhiều kinh nghiệm lưu truyền qua nhiều thế hệ. Ví dụ 1. Thịt vịt tính "lạnh", thích hợp ăn vào mùa hè với nước mắm gừng, tính "nóng". M ặt khác, thịt gà và thịt lợn tính "ấm" thích hợp ăn vào mùa đông tr ước đây th ường ch ỉ khi đến Tết mới làm thịt lợn, thịt gà. 2. Thủy sản các loại từ "mát" đến "lạnh" rất thích hợp để sử dụng với gừng,sả,tỏi "ấm". 3. Thức ăn cay "nóng" thường được cân bằng với vị chua, được coi là "mát" 4. Trứng vịt lộn "lạnh", phải kết hợp với rau răm"nóng". 5. Bệnh nhân cúm và cảm lạnh phải uống nước gừng, xông bằng lá sả, lá b ưởi "nóng". • Ngũ hành tương sinh Các nguyên liệu chuẩn bị để trộn nhân chả nem- món ăn kết hợp gần nh ư hoàn h ảo các yếu tố âm dương và ngũ hành Ngũ hành[3] Yếu tố Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy Ngũ vị Chua Đắng Ngọt Cay Mặn Ngũ tạng Mật Lòng non Dạ dày Lòng già Thận Ngũ sắc Xanh Đỏ Vàng Trắng Đen Ngũ quan Thị giác Vị giác Xúc giác Khứu giác Thính giác Ngũ chất Chất bột Chất béo Chất đạm Muối khoáng Nước *Ẩm thực miền Bắc Ẩm thực miền Bắc thường không đậm các vị cay, béo, ngọt bằng các vùng khác, chủ yếu sử dụng nước mắm loãng, mắm tôm. Sử dụng nhiều món rau và các loại thủy sản nước ngọt dễ kiếm như tôm, cua, cá, trai, hến và nhìn chung, do truyền thống xa xưa có nền nông nghiệp nghèo nàn, ẩm thực miền Bắc trước kia ít thịnh hành các món ăn với nguyên liệu chính là thịt, cá. Nhiều người đánh giá cao Ẩm thực Hà Nội một thời, cho rằng nó đại diện tiêu biểu nhất của tinh hoa ẩm thực miền Bắc Việt Nam với những món phở, bún thang, bún chả, các món quà như cốm Vòng, bánh cuốn Thanh Trì và gia vị đặc sắc như tinh dầu cà cuống, rau húng Láng. Ẩm thực miền Trung Đồ ăn miền Trung với tất cả tính chất đặc sắc của nó thể hiện qua hương vị riêng biệt, nhiều món ăn cay và mặn hơn đồ ăn miền Bắc và miền Nam, màu sắc được phối trộn phong phú, rực rỡ, thiên về màu đỏ và nâu sậm. Các tỉnh thành miền Trung như Huế, Đà Nẵng, Bình Định rất nổi tiếng với mắm tôm chua và các loại mắm ruốc. Đặc biệt, ẩm thực Huế do ảnh hưởng từ phong cách ẩm thực hoàng gia, cho nên rất cầu kỳ trong chế biến và trình bày. Một mặt khác, do địa phương không có nhiều sản vật mà ẩm thực hoàng gia lại đòi hỏi số lượng lớn món, nên mỗi loại nguyên liệu đều được chế biến rất đa dạng với trong nhiều món khác nhau. Ẩm thực miền Nam Ẩm thực miền Nam, là nơi chịu ảnh hưởng nhiều của ẩm thực Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan, có đặc điểm là thường gia thêm đường và hay sử dụng sữa dừa nước cốt và nước dão của dừa. Nền ẩm thực này cũng sản sinh ra vô số loại mắm khô như mắm cá sặc, mắm bò hóc, mắm ba khía Ẩm thực miền Nam cũng dùng nhiều đồ hải sản nước mặn và nước lợ hơn miền Bắc các loại cá, tôm, cua, ốc biển, và rất đặc biệt với những món ăn dân dã, đặc thù của một thời đi mở cõi, hiện nay nhiều khi đã trở thành đặc sản chuột đồng khìa nước dừa, dơi quạ hấp chao, rắn hổ đất nấu cháo đậu xanh, đuông dừa, đuông đất hoặc đuông chà là, vọp chong, cá lóc nướng trui phục Vào thời xưa thì phụ nữ người Kinh ai cũng mặc yếm. Váy thì váy dài với dây thắt lưng. Các loại nón thông thường như thúng, ba tầm... Trong những ngày h ội thì người ph ụ n ữ thường mặc áo dài. Các thiếu nữ thì hay làm búi tóc đuôi gà. Các đồ trang sức truyền thống như trâm, vòng cổ, hoa tai, nhẫn, vòng tay mang phong cách tùy theo từng vùng. Phụ nữ Nam Bộ thường mặc áo bà ba với các kiểu cổ như tròn, trái tim, bà lai v ới các khăn trùm đầu. Nón lá có thể nói là nón được sử dụng rộng rãi nhất cho ph ụ n ữ th ời x ưa do nó có thể tự làm và che nắng rất tốt.[18] *Miền Bắc *Miền Trung • Miền Nam 4,Lễ hội -Lối sống 3 miền mỗi nơi một nỗi niềm riêng *Miền Bắc - Tính cách chung của người miền Bắc tinh tế, thâm thúy, sâu sắc, mặt khác bảo thủ hoài cổ, lối nói vòng vo tam quốc. - Nơi xuất phát các luồng di dân đi các n ơi khác. B ởi th ế mà người mi ền B ắc thì có “anh cả”, còn miền Nam thì anh cả được gọi là “ anh hai”. - Có truyền thống ăn học, tầng lớp trí thức đông đảo, luôn đ ề cao h ệ th ống tr ường s ở và chế độ thi cử để kén chọn người hiền tài đã có cách đay gần ngàn năm. - Người Bắc có tính khoe khoang hay khoe giàu, rất trọng sĩ diện. - Văn hoá “quà” trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống. - Phụ nữ miền Bắc nổi tiếng về sự đảm đang, thủy chung, có sự hiểu biết rộng nhưng vẫn còn đâu đó dù là rất ít những chị em bị ảnh hưởng bởi những phong t ục t ập quán xưa kia, vẫn khép kín trong lối tư duy xưa cũ. *Miền Trung - Người miền Trung cần cù, chịu thương, chịu khó, hiếu học, tiết kiệm. - Phụ nữ miền Trung cần cù chịu khó, có sức chịu đựng rất cao trong m ọi hoàn c ảnh c ủa cuộc sống, thùy mị đoan trang nhưng sống khép kín. - Do vùng đất khắc nghiệt, nên tính cách người mi ền trung th ường hay nóng n ảy Nghèo khổ là nỗi buồn ám ảnh nhất, gay gắt nhất. Vì thế con người miền Trung luôn là nh ững con người dễ cáu gắt, bực tức; Sống trong sự đe do ạ thường trực, người mi ền Trung ch ịu ảnh hưởng bức bối thường xuyên. Nhu cầu đột phá và khả năng bị stress rất cao., khá keo kiệt Người miền Trung khó thay đổi nhanh nếp sống, cách sống nên họ thích “ăn chắc, mặc bền, phân chia thì rạch ròi. - Chính yếu tố này đã tạo ra những dấu ấn đặc bi ệt. Hò Sông Mã, hát gi ặm, hát ví Ngh ệ Tĩnh, ca Huế, hò Huế, dân ca Nam Trung bộ và Nhã nhạc cung đình Hu ế - c ả th ảy có 7 loại hình, vượt trội so với 4 ở miền Bắc có Hát rống quân; Hát xảm; Hát quan h ọ; Hát ghẹo Phú Thọ và 1 ở miền Nam Dân ca Nam bộ. Ca dao, dân ca mi ền Trung không l ả lướt, uyển nhẹ như dân ca Bắc bộ, không có cái tôi cô đ ơn, khắc kho ải và sâu th ẳm nh ư dân ca Nam Bộ nhưng thật da diết và nhiều lắm những trăn trở, những nỗi buồn. Ca dao, dân ca miền Trung không có được nhịp điệu tươi vui như “Tình bằng có cái tr ống cơm” hay là điệu nhí nhảnh, rộn rã như “Ới con ngựa, ngựa ô”, mà man mác bu ồn, n ỗi cám cảnh tụ lại thành những tiếng thở dài - đó là giai đi ệu chính c ủa nh ững câu hò, câu hát. - Miền trung khắc nghiệt, cay đắng của cuộc sống đã tạo nên nhu c ầu b ứt phá, thay đ ổi cũng như làm nên khả năng chịu đựng đến m ức phi thường. Rất nhi ều người Thanh Ngh ệ đã đi theo Nguyễn Hoàng. Không ít người miền Trung đã thành đạt, có tiếng tăm từ cái nhu cầu bứt phá. Sự gan lỳ, ý nghĩ chấp nhận, liều mình đã làm cho mi ền Trung t ự lâu đ ời là cái nôi thành công của Lê Lợi, nơi sinh ra c ủa kiêu binh th ời Tr ịnh Nguy ễn, bãi chi ến trường của nhiều cuộc chiến tranh. Không phải ngẫu nhiên mà Bắc Trung b ộ là n ơi đ ến của vua Hàm Nghi. Càng không ngẫu nhiên miền Trung đã sinh ra nh ững con ng ười mà s ự nghiệp của họ gắn liền với sự bất tử như Lê Lợi, Nguyễn Hoàng, Phan B ội Châu, Phan Chu Trinh, Phạm Hồng Thái, Trần Phú, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Du ẩn, Võ Nguy ễn Giáp và Hồ Chí Minh... - Đất miền Trung đã “phát minh” ra nhiều từ ngạo mạn. Hu ế có t ừ “ch ơ m ấy” Mua nhà hết vài trăm cây chớ mấy. Quảng Trị có từ “vẹ” Tau vẹ mà mi không nghe. Ngh ệ Tĩnh có từ “phút mốt”Chuyện nớ tau làm phút mốt. Một phút và một ... giây?. Đà N ẵng, Quảng Nam có từ “nghe chưa” Em kể...nghe chưa; em nói...nghe chưa...... Đó là kết quả của sự kết hợp giữa tài năng với sự khốn cùng. * Miền Nam - Người Nam Bộ thì hướng ngoại, cởi mở, bộc trực, thẳng thắn, thích làm ăn lớn, thích phiêu lưu mạo hiểm, rất trọng nghĩa khinh tài. - Là vùng đất mới, trên vai không trĩu nặng truyền thống hàng ngàn năm đã khi ến con người Nam Bộ trở nên mạnh bạo, năng động, cởi mở… - Phụ nữ miền Nam là mẫu người mạnh mẽ trong cuộc sống, phóng khoáng, rộng rãi, thích khám phá cái mới lạ nhưng lại khá thực dụng. - Tính cách Nam Bộ là một khía cạnh văn hoá ứng xử và để lại d ấu ấn rõ r ệt trong m ọi mặt đời sống văn hoá. Người Nam Bộ được Trịnh Hoài Đức cho là những người “tr ọng nghĩa khinh tài”, Lê Quý Đôn thì coi người Nam Bộ là “dân dám làm ăn lớn”, người n ước ngoài thì khái quát “hiếu khách hơn bất kỳ nơi nào ở Châu Á”. - Một phần người dân Nam Bộ từ gốc gác dân tội đồ, lưu tán đã tôi luyện ở h ọ tính m ạo hiểm, thích nay đây mai đó nhưng vẫn hướng về c ội ngu ồn. Ở n ơi đâu h ọ đ ặt chân t ới thì sẽ mọc lên các miếu thờ vọng về cố hương. - Những người khai phá vùng đất mới này là những người coi nghĩa khí làm đầu, h ọ c ư x ử hào hiệp, coi khinh tiền tài, có thể vì nghĩa khí mà xả thân không nu ối ti ếc. H ọ còn là những người mến khách, thông cảm, quý trọng nhau có thể nhường cơm xẻ áo. - Trong ứng xử, họ cởi mở, chan hoà, dễ kết thân, dễ hoà vào với cộng đ ồng m ới lạ, không sĩ diện kiểu kẻ sĩ, không đặt nặng vấn đề môm đăng hộ đối. - Người Nam Bộ xưa là những người ít học, và cũng không coi vi ệc h ọc hành là con đường tiến thân, đổi đời như người nông dân miền Bắc. Bởi v ậy h ọ không ph ải là nh ững con người sống nội tâm, chuộng suy tư mà là những người ưa hành đ ộng. Vì th ế ứng x ử của họ thường bộc trực, thẳng thắn;ngôn từ ít chữ nghĩa, văn chương chào đón. - Người Nam Bộ thích kết thân bạn bè để cùng nhau chè chén, ăn chơi xả láng, và cũng khá là ồn ào nhưng sẵn trong họ một cái gì đó mang n ặng âm đi ệu s ầu t ư. Nên trong cu ộc vui họ ham mê hát xướng, hát bội, hát cải lương, nhất là các âm đi ệu v ọng c ổ ch ứa ch ất sầu vọng. Đó là hai mặt trong tâm lý con người Nam Bộ. - Họ còn là những người sẵn sàng tiếp nhận và hướng về cái mới rất nhanh, nh ạy c ảm với cái mới trong cả việc làm ăn, lẫn vui chơi giải trí. - Nam Bộ có những nét riêng so với các vùng đất có bề dày l ịch s ử nh ư B ắc B ộ, Trung B ộ đó là vùng đất giàu sức trẻ. Vị thế địa chính trị, địa văn hoá c ủa Nam B ộ, khi ến nó tr ở thành trung tâm mà quá trình tiếp biến văn hoá di ễn ra nhanh chóng c ả b ề m ặt l ẫn b ề sâu, cả về lượng và chất tạo cho Nam Bộ có những đặc thù riêng. 5,Võ thuật Võ thuật Việt Nam là tên gọi khái quát hệ thống võ thuật, các võ phái, bài th ảo, võ s ư khai sinh và phát triển trên đất nước Việt Nam, hoặc do người Việt làm chưởng môn, gây d ựng sáng tạo tại ngoại quốc từ xưa đến nay, có những đ ặc tr ưng riêng bi ệt trong s ự đ ối sánh với các võ phái nước ngoài khác. Võ thuật Việt Nam có n ội hàm khái ni ệm r ộng h ơn thu ật ngữ võ cổ truyền Việt Nam thường biết đến với tên gọi võ Ta phân biệt với võ Tàu vốn thường dùng để chỉ những võ phái đã phát triển trong khoảng từ gi ữa th ế k ỷ 20 tr ở v ề trước trên lãnh thổ Việt Nam, theo đó, võ thuật Vi ệt Nam có th ể bao g ồm c ả nh ững môn phái mới sinh thành trong thời điểm hiện tại, và bao quát cả những võ phái đã phát tri ển trong suốt trường kỳ lịch sử Việt Nam. Các phái võ Việt Nam, hay còn được gọi với tên "Võ Thuật Cổ Truyền" vẫn thể hi ện những đặc điểm khác biệt rõ rệt với các nền võ học khác trên th ế gi ới nói chung và Trung Hoa nói riêng 1. Sự xuất hiện của lời thiệu bằng thơ, phú; 2. Bộ pháp vận hành theo đồ hình bát quái lưỡng túc bát quái vi căn, khi đ ứng thì vững như đá tảng, khi di chuyển thì nhẹ nhàng linh hoạt như lá bay; 3. Bộ tay áp dụng theo ngũ hành pháp song thủ ngũ hành vi bản; 4. Kỹ thuật đòn thế được chọn lọc, phân thế riêng phù hợp với cách đánh của từng dạng đối tượng, địa hình, nhất là lối đánh cận chiến một người chống lại nhi ều người; 5. Tận dụng triệt để lối đánh "cộng lực" - dựa vào sức lực đối phương đ ể tri ệt hạ đối phương. *Miền Bắc • Sơn Đông Không Động • Hoàng quyền • Nhất Nam võ Hét • Võ Vật Liễu Đôi • Thăng Long Võ Đạo • Nam Hồng Sơn • Thanh Phong Võ Đạo • Bắc Việt Võ • Uy Long Môn *Miền Trung • Tây Sơn Võ Đạo • Bình Thái Đạo • Áo VảiVõ Kinh Vạn An • Phước Sơn Võ Đạo • Bạch Hổ lâm *Miền Nam • Bạch Hổ võ phái • Tân Khánh Bà Trà • Kim Kê • Thanh Long Võ Đạo • Bình Định Sa Long Cương • Trúc Lâm Thái Hư • Việt Đạo Quán • Tây Sơn Bình Định • Hóa Quyền Đạo [1] • Hắc Long • Nội Gia Võ Đạo Việt Nam [2] • Việt Nam Quyền Đạo [3] • Môn Phái Hồng Mi Đạo Nhơn

phong tục tập quán miền trung